[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_khung%20gi%E1%BA%B1ng%20%C4%91%E1%BB%93ng%20t%C3%A2m%20t%E1%BB%B1%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20t%C3%A2m{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_khung%20gi%E1%BA%B1ng%20%C4%91%E1%BB%93ng%20t%C3%A2m%20t%E1%BB%B1%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20t%C3%A2m":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":57,"createUser":70,"publishUser":74,"keywords":75,"keywordCount":71,"enrichTopicLink":76,"status":77,"createTime":78,"updateTime":79,"publishTime":80,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":81,"wikidataId":10,"relateTopics":82},"khung giằng đồng tâm tự định tâm","Khung giằng đồng tâm tự định tâm (SC-CBF) là gì?","Khung giằng đồng tâm tự định tâm là hệ kết cấu thép kháng chấn giúp loại bỏ biến dạng dư sau động đất. Khám phá nguyên lý và hiệu quả kinh tế kỹ thuật.","\u003Cp>Khung giằng đồng tâm tự định tâm là hệ thống kết cấu thép kháng chấn tiên tiến kết hợp các thanh giằng đồng tâm với cơ chế đàn hồi tự phục hồi nhằm giảm thiểu biến dạng dư vĩnh viễn và tập trung hư hại vào các bộ phận tiêu tán năng lượng có thể thay thế sau động đất. Khác với các hệ khung truyền thống dựa vào biến dạng dẻo không phục hồi của cấu kiện chịu lực chính, hệ kết cấu này duy trì khả năng đưa công trình trở về phương thẳng đứng ban đầu sau các chấn động mạnh. Bài viết trình bày chi tiết nguyên lý cơ học, cấu tạo các thành phần cốt lõi, mô hình ứng xử phi tuyến, phương pháp thiết kế và hiệu quả kinh tế kỹ thuật của hệ thống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất cơ học và giới hạn của khung giằng truyền thống\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong kỹ thuật thiết kế công trình chịu động đất, khung giằng đồng tâm truyền thống là một trong những giải pháp kháng lực ngang được ứng dụng rộng rãi nhất nhờ sở hữu độ cứng ban đầu lớn và khả năng kiểm soát độ trôi tầng hiệu quả dưới tải trọng gió và động đất nhỏ. Các thanh giằng thép được bố trí đồng tâm tại các nút dầm cột, tạo thành hệ dàn tam giác truyền lực trực tiếp theo trục cấu kiện xuống móng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tuy nhiên, triết lý thiết kế kháng chấn truyền thống chấp nhận sự hư hại dẻo của các thanh giằng khi xảy ra động đất mạnh nhằm tiêu tán năng lượng rung động. Cơ chế này dẫn đến những giới hạn kỹ thuật nghiêm trọng sau chấn động:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng oằn và suy giảm độ cứng:\u003C\u002Fstrong> Dưới tác dụng đổi chiều liên tục của tải trọng địa chấn, thanh giằng thép chịu nén bị oằn phi đàn hồi trong khi thanh giằng chịu kéo bị chảy dẻo kéo dài, dẫn đến hiện tượng suy giảm sức chịu tải và độ cứng nhanh chóng qua các chu kỳ dao động.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ trôi tầng dư lớn sau động đất:\u003C\u002Fstrong> Sự biến dạng dẻo không thể phục hồi của vật liệu thép khiến toà nhà bị nghiêng lệch vĩnh viễn sau trận động đất. Nhiều công trình dù không bị sụp đổ hoàn toàn nhưng có độ nghiêng lệch dư lớn đến mức không thể khắc phục về mặt kỹ thuật hoặc chi phí sửa chữa vượt quá giá trị xây dựng lại.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khó khăn trong việc kiểm tra và thay thế:\u003C\u002Fstrong> Các thanh giằng truyền thống thường liên kết hàn hoặc bu lông trực tiếp vào dầm và cột, việc thay thế cấu kiện bị biến dạng dẻo sau thiên tai đòi hỏi các giải pháp chống đỡ tạm thời phức tạp và tốn kém thời gian gián đoạn sử dụng công trình.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Cơ chế hoạt động và cấu tạo của khung giằng đồng tâm tự định tâm\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để khắc phục triệt để nhược điểm biến dạng dư của khung truyền thống, hệ thống khung giằng đồng tâm tự định tâm tích hợp cơ chế tự phục hồi vị trí kết hợp với các phần tử tiêu tán năng lượng độc lập. Hai giải pháp kỹ thuật điển hình nhất của hệ thống này là cơ chế lắc có kiểm soát tại chân khung và cơ chế thanh giằng tự định tâm tích hợp thiết bị giảm chấn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Hệ thống khung giằng thép lắc có kiểm soát\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong giải pháp khung lắc có kiểm soát, chân của các cột khung giằng không được neo cứng hoàn toàn vào móng như kết cấu thông thường mà được thiết kế để có thể nâng tách khỏi móng khi mô men lật do động đất vượt qua một ngưỡng thiết kế định trước.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Cấu tạo của hệ thống khung lắc bao gồm ba bộ phận chủ đạo:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khung giằng thép cứng:\u003C\u002Fstrong> Dầm, cột và các thanh giằng được thiết kế đàn hồi để hoạt động như một khối cứng liên kết chặt chẽ khi lắc qua lại.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cáp dự ứng lực không bám dính:\u003C\u002Fstrong> Các bó cáp thép cường độ cao hoặc thanh thép dự ứng lực được bố trí dọc theo chiều cao của khung và neo chặt từ đỉnh khung xuống móng. Khi khung bị nâng góc chân cột trong quá trình lắc, các bó cáp bị kéo dài đàn hồi và tạo ra lực kéo phục hồi cực lớn ép khung quay trở lại vị trí ban đầu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cầu chì tiêu tán năng lượng thay thế được:\u003C\u002Fstrong> Các tấm thép cắt hình tam giác hoặc thanh kim loại dẻo được lắp đặt tại chân cột hoặc liên kết giữa khung và móng để tiêu tán năng lượng thông qua biến dạng dẻo cục bộ khi khung lắc. Sau động đất, các cầu chì này có thể được tháo bỏ và thay thế dễ dàng mà không ảnh hưởng đến độ an toàn của cấu kiện chính.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Theo công bố thực nghiệm của Eatherton và cộng sự năm 2014, hệ thống khung giằng thép lắc có kiểm soát chịu được biến dạng góc xoay lắc tầng từ 2% đến 3% mà không gây hư hại dầm cột chính. Toàn bộ hư hại phi đàn hồi được giới hạn trong các cầu chì cơ học dễ dàng thay thế, giúp công trình phục hồi công năng nhanh chóng sau chấn động lớn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thanh giằng tự định tâm tiêu tán năng lượng\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Bên cạnh giải pháp lắc chân cột, các kỹ sư kết cấu còn phát triển giải pháp tích hợp cơ chế tự định tâm trực tiếp vào từng thanh giằng riêng lẻ. Giải pháp này cho phép áp dụng linh hoạt vào các toà nhà có sơ đồ kết cấu thông thường mà không đòi hỏi chi tiết khớp xoay phức tạp tại móng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo nghiên cứu của Christopoulos và cộng sự năm 2008, thanh giằng tự định tâm SCED tạo ra đường cong trễ hình lá cờ giúp loại bỏ biến dạng dư sau động đất. Cấu tạo của thanh giằng SCED gồm hai ống thép lồng vào nhau, các thanh gân dự ứng lực bằng vật liệu polyme gia cường sợi hoặc thép cường độ cao được căng trước bên trong, kết hợp với các bề mặt ma sát ma sát khô. Khi chịu lực kéo hoặc nén, sự trượt tương đối giữa hai ống thép kích hoạt lực ma sát để hấp thụ năng lượng rung động, trong khi các gân dự ứng lực bị kéo dài đàn hồi ở cả hai chiều kéo nén, cung cấp lực kéo hồi phục đưa thanh giằng trở về chiều dài ban đầu khi tải trọng giảm về không.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Phân tích động lực học của Zhu và Zhang năm 2008 cho thấy khung giằng tự định tâm giảm độ trôi tầng dư xuống dưới 0.1% so với mức trên 1% của khung CBF thông thường. Việc giảm thiểu độ trôi tầng dư xuống gần bằng không loại bỏ hoàn toàn hiện tượng toà nhà bị nghiêng lệch sau động đất, bảo vệ hệ thống thang máy, đường ống kỹ thuật và các kết cấu bao che phi kết cấu của toà nhà.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân tích hiệu suất địa chấn và phản ứng trễ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đặc trưng cơ học nổi bật nhất của khung giằng đồng tâm tự định tâm là đường cong quan hệ giữa lực cắt đáy và chuyển vị ngang có dạng hình lá cờ đối xứng qua gốc toạ độ. Dạng đường cong này thể hiện sự dung hoà hoàn hảo giữa hai yêu cầu kỹ thuật đối lập nhau trong thiết kế kháng chấn: khả năng tiêu tán năng lượng rung động và khả năng tự khôi phục hình học.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Quá trình ứng xử của hệ thống trải qua các giai đoạn làm việc rõ rệt:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn đàn hồi ban đầu:\u003C\u002Fstrong> Dưới tải trọng động đất nhỏ và gió bão, hệ thống làm việc hoàn toàn đàn hồi với độ cứng ngang cao tương đương khung giằng đồng tâm truyền thống, bảo đảm điều kiện tiện nghi cho người sử dụng toà nhà.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn nâng tách và tiêu tán năng lượng:\u003C\u002Fstrong> Khi lực ngang vượt qua lực căng trước của cáp dự ứng lực, chân cột bắt đầu nâng tách hoặc thiết bị ma sát bắt đầu trượt. Độ cứng ngang của hệ thống giảm xuống nhưng lực ngang vẫn tiếp tục tăng nhẹ do độ cứng đàn hồi của cáp dự ứng lực, đồng thời các thiết bị tiêu tán năng lượng bắt đầu làm việc tạo ra diện tích vòng lặp trễ khép kín.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn hồi phục khi đổi chiều tải trọng:\u003C\u002Fstrong> Khi chuyển vị đạt đỉnh và tải trọng đổi chiều, lực kéo hồi phục từ cáp dự ứng lực lập tức kéo kết cấu quay trở về vị trí cân bằng trước khi chu kỳ dao động ngược chiều bắt đầu, ngăn chặn sự tích luỹ biến dạng một chiều.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\u003Cp>Nghiên cứu của Qiu và Zhu năm 2020 chứng minh hệ lai kết hợp SC-CBF kiểm soát hiệu quả biến dạng đỉnh và phục hồi hoàn toàn sau động đất mạnh. Bằng cách kết hợp khung giằng tự định tâm với các khung liên kết dầm cột kháng uốn hoặc tối ưu hoá tỷ lệ độ cứng sau nâng tách, hệ thống kiểm soát đồng thời cả gia tốc sàn lẫn biến dạng đỉnh của các tầng trên cao, khắc phục nhược điểm khuếch đại lực do các dạng dao động bậc cao gây ra.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bảng so sánh đặc tính kỹ thuật các hệ thống khung giằng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để đánh giá sự khác biệt căn bản giữa các thế hệ khung giằng thép trong thiết kế kháng chấn, bảng dưới đây tổng hợp và đối chiếu các thông số làm việc chủ yếu giữa khung giằng truyền thống và khung giằng tự định tâm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Thông số so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Khung giằng đồng tâm truyền thống\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Khung giằng chống oằn BRBF\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Khung giằng đồng tâm tự định tâm\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dạng đường cong trễ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trễ suy giảm do oằn thanh nén\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vòng trễ dẻo đối xứng đầy đặn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vòng trễ hình lá cờ tự phục hồi\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cơ chế tiêu tán năng lượng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chảy dẻo và oằn thanh giằng chính\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chảy dẻo lõi thép trong vỏ bọc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giảm chấn ma sát hoặc cầu chì dẻo\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ trôi tầng dư sau động đất\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lớn, thường vượt mức cho phép\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đáng kể, khó phục hồi thẳng đứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất nhỏ, kiểm soát dưới ngưỡng cho phép\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vị trí tập trung hư hại\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phân tán trên các thanh giằng chính\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bên trong lõi thanh giằng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giới hạn trong các chi tiết cầu chì rời\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Khả năng thay thế sau thiên tai\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất khó khăn, đòi hỏi gia cố phức tạp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thay thế toàn bộ thanh giằng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dễ dàng thay thế cầu chì độc lập\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chi phí sửa chữa vòng đời\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất cao khi toà nhà bị nghiêng lệch\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trung bình đến cao sau động đất lớn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thấp nhất nhờ loại bỏ độ nghiêng dư\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Hiệu quả kinh tế kỹ thuật và triển vọng ứng dụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong thiết kế kỹ thuật công trình hiện đại, tiêu chí đánh giá không chỉ dừng lại ở chi phí xây dựng ban đầu mà mở rộng sang chi phí vòng đời và khả năng chống chịu bền vững trước thảm hoạ thiên tai.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Mặc dù hệ khung giằng tự định tâm đòi hỏi chi phí chế tạo phụ kiện cơ khí và công tác căng cáp dự ứng lực cao hơn trong giai đoạn xây dựng ban đầu, nhưng lợi ích kinh tế tổng thể trong suốt vòng đời công trình phụ thuộc vào quy mô toà nhà và cấp độ địa chấn. Nghiên cứu kinh tế của Huang và cộng sự năm 2018 chỉ ra rằng hệ SC-CBF đạt hiệu quả khả thi kinh tế ở công trình 6 tầng và 8 tầng tại vùng địa chấn cao nhờ giảm thiểu chi phí sửa chữa và thời gian gián đoạn sử dụng sau thiên tai. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận ranh giới kỹ thuật quan trọng khi hệ SC-CBF chưa mang lại ưu thế kinh tế ở toà nhà 10 tầng so với khung CBF thông thường, do các dao động bậc cao làm gia tăng gia tốc sàn và gây thiệt hại cho các thành phần phi kết cấu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, các quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn thiết kế kết cấu thép kháng chấn đang từng bước cập nhật các phương pháp thiết kế dựa trên hiệu năng công trình. Tại các đô thị lớn và các trung tâm kinh tế trọng điểm, nhu cầu bảo vệ an toàn cho các công trình hạ tầng trọng yếu như bệnh viện, trung tâm cứu hộ khẩn cấp, trung tâm dữ liệu và các toà nhà cao tầng đòi hỏi công trình phải duy trì khả năng hoạt động liên tục ngay sau động đất. Hệ khung giằng đồng tâm tự định tâm là hướng đi đầy hứa hẹn, cung cấp giải pháp kết cấu thép hiện đại đáp ứng trọn vẹn mục tiêu kiến tạo đô thị an toàn và bền vững.\u003C\u002Fp>\n","Khung giằng đồng tâm tự định tâm","self-centering concentrically braced frame",[20,21,22],"khung giằng đồng tâm tự phục hồi","SC-CBF","hệ khung giằng tự định tâm","Khung giằng đồng tâm tự định tâm là hệ thống kết cấu thép kháng chấn kết hợp các thanh giằng đồng tâm với cơ chế đàn hồi tự phục hồi nhằm giảm thiểu biến dạng dư vĩnh viễn và tập trung hư hại vào các bộ phận tiêu tán năng lượng có thể thay thế sau động đất.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[26,33,39,45,52],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":10},"Christopoulos, C., Tremblay, R., Kim, H.-J., & Lacerte, M. (2008). Self-Centering Energy Dissipative Bracing System for the Seismic Resistance of Structures: Development and Validation. Journal of Structural Engineering, 134(1), 96–107.","Self-Centering Energy Dissipative Bracing System for the Seismic Resistance of Structures: Development and Validation","C. Christopoulos, R. Tremblay, H.-J. Kim, M. Lacerte","Journal of Structural Engineering",2008,"10.1061\u002F(ASCE)0733-9445(2008)134:1(96)",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":30,"year":37,"doi":38,"url":10},"Eatherton, M. R., Ma, X., Krawinkler, H., Mar, D., Billington, S., Hajjar, J. F., & Deierlein, G. G. (2014). Design Concepts for Controlled Rocking of Self-Centering Steel-Braced Frames. Journal of Structural Engineering, 140(11), 04014082.","Design Concepts for Controlled Rocking of Self-Centering Steel-Braced Frames","M. R. Eatherton, X. Ma, H. Krawinkler, D. Mar, S. Billington, J. F. Hajjar, G. G. Deierlein",2014,"10.1061\u002F(ASCE)ST.1943-541X.0001047",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":30,"year":43,"doi":44,"url":10},"Huang, Q., Dyanati, M., Roke, D., Chandra, A., & Sett, K. (2018). Economic Feasibility Study of Self-Centering Concentrically Braced Frame Systems. Journal of Structural Engineering, 144(8), 04018101.","Economic Feasibility Study of Self-Centering Concentrically Braced Frame Systems","Q. Huang, M. Dyanati, D. Roke, A. Chandra, K. Sett",2018,"10.1061\u002F(ASCE)ST.1943-541X.0002093",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":10},"Qiu, C., & Zhu, S. (2020). Enhance seismic performance of self-centering concentrically braced frames by using hybrid systems. Bulletin of Earthquake Engineering, 18(9), 4509–4532.","Enhance seismic performance of self-centering concentrically braced frames by using hybrid systems","C. Qiu, S. Zhu","Bulletin of Earthquake Engineering",2020,"10.1007\u002Fs10518-020-00851-x",{"citationText":53,"title":54,"authors":55,"source":30,"year":31,"doi":56,"url":10},"Zhu, S., & Zhang, Y. (2008). Seismic Analysis of Concentrically Braced Frame Systems with Self-Centering Friction Damping Braces. Journal of Structural Engineering, 134(1), 121–131.","Seismic Analysis of Concentrically Braced Frame Systems with Self-Centering Friction Damping Braces","S. Zhu, Y. Zhang","10.1061\u002F(ASCE)0733-9445(2008)134:1(121)",[58,61,64,67],{"question":59,"answer":60},"Khung giằng đồng tâm tự định tâm khác gì so với khung giằng truyền thống?","Khung giằng truyền thống tiêu tán năng lượng qua biến dạng dẻo không phục hồi của thanh giằng, để lại độ trôi tầng dư lớn sau động đất. Trong khi đó, khung giằng tự định tâm sử dụng cáp dự ứng lực đàn hồi để kéo toà nhà tự trở về vị trí thẳng đứng ban đầu.",{"question":62,"answer":63},"Cơ chế nào giúp hệ khung giằng này tự phục hồi vị trí?","Khả năng tự định tâm được cung cấp bởi các bó cáp thép cường độ cao hoặc thanh dự ứng lực không bám dính. Khi khung bị lắc nâng tách chân cột hoặc thanh giằng bị trượt kéo dài, lực đàn hồi của cáp đóng vai trò lò xo kéo toàn bộ kết cấu về vị trí cân bằng.",{"question":65,"answer":66},"Năng lượng động đất được tiêu tán qua bộ phận nào?","Năng lượng được tiêu tán thông qua các cầu chì cơ học dễ tháo lắp hoặc các thiết bị giảm chấn ma sát chuyên dụng. Các bộ phận này được thiết kế để chịu hư hại dẻo cục bộ nhằm bảo vệ tuyệt đối các dầm và cột chịu lực chính của toà nhà.",{"question":68,"answer":69},"Ứng dụng hệ khung giằng tự định tâm mang lại lợi ích kinh tế gì?","Mặc dù chi phí chế tạo ban đầu cao hơn, hệ thống này giúp loại bỏ nguy cơ toà nhà bị nghiêng lệch sau động đất, giảm thiểu chi phí sửa chữa vòng đời và rút ngắn thời gian gián đoạn hoạt động của công trình sau thiên tai.",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},[13],false,"PUBLISHED","2026-10-13T03:25:24.969+00:00","2026-10-13T03:47:32.391+00:00","2026-10-13T03:47:32.362+00:00",0,[83,93,98,103,108,113,118,123,128,133],{"id":84,"title":85,"term":86,"englishTitle":87,"definition":88,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":94,"title":95,"term":94,"englishTitle":96,"definition":97,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":101,"definition":102,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":106,"definition":107,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":111,"definition":112,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":116,"definition":117,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"trao đổi nhiệt","Trao đổi nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","heat transfer","Trao đổi nhiệt là quá trình truyền năng lượng nhiệt giữa các vật thể hoặc hệ thống vật lý có sự chênh lệch nhiệt độ qua ba cơ chế dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ cho đến khi đạt trạng thái cân bằng nhiệt.",{"id":119,"title":120,"term":119,"englishTitle":121,"definition":122,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":126,"definition":127,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":131,"definition":132,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":134,"title":135,"term":134,"englishTitle":136,"definition":137,"discipline":24,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]