[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_kh%E1%BB%91i%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20th%E1%BB%83%20t%C3%ADch%20kh%C3%B4{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_khối lượng thể tích khô":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":48,"createUser":61,"publishUser":65,"keywords":66,"keywordCount":77,"enrichTopicLink":78,"status":79,"createTime":80,"updateTime":81,"publishTime":82,"linkEnrichedTime":83,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":84,"relateTopics":85},"khối lượng thể tích khô","Khối lượng thể tích khô trong cơ học đất và thi công","Khối lượng thể tích khô là chỉ tiêu vật lý trong địa kỹ thuật, phản ánh mức độ xếp chặt của khung hạt đất và quyết định khả năng chịu lực nền móng.","\u003Cp>Khối lượng thể tích khô của đất là tỷ số giữa khối lượng của các hạt khoáng chất khô của đất trên tổng thể tích ban đầu của khối đất bao gồm cả thể tích hạt rắn và thể tích các lỗ rỗng. Đây là một trong những chỉ tiêu vật lý nền tảng nhất trong địa kỹ thuật và cơ học đất, phản ánh mức độ xếp chặt của các hạt đất và quyết định trực tiếp đến các đặc tính cơ lý quan trọng như cường độ chống cắt, khả năng chịu tải và tính biến dạng nén lún của nền móng công trình.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất vật lý và mô hình ba pha của đất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong tự nhiên, đất là một {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20ph%C3%A2n%20t%C3%A1n%22%7D}} dị thể phức tạp bao gồm ba pha cùng tồn tại: pha rắn (các hạt khoáng vật và mùn hữu cơ), pha lỏng (nước tự do, nước mao dẫn và nước liên kết) và pha khí ({{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%C3%B4ng%20kh%C3%AD%22%7D}} hoặc {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%C6%A1i%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22%7D}} chiếm các khoảng rỗng không chứa nước). Tổng thể tích của một khối đất bao gồm thể tích của các hạt rắn và thể tích khoảng rỗng giữa các hạt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi toàn bộ khối đất được đem sấy khô hoàn toàn ở nhiệt độ tiêu chuẩn nhằm làm bay hơi hết nước trong các lỗ rỗng, khối lượng của mẫu đất chỉ còn lại khối lượng của pha rắn. Khối lượng thể tích khô được xác định bằng cách lấy khối lượng hạt rắn khô chia cho tổng thể tích nguyên vẹn ban đầu của mẫu đất trước khi sấy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Chỉ tiêu này khác biệt căn bản với khối lượng riêng của hạt đất (tỷ số giữa khối lượng hạt khô trên thể tích thực của riêng các hạt rắn loại trừ lỗ rỗng) và khối lượng thể tích tự nhiên (tỷ số giữa tổng khối lượng đất ẩm trên tổng thể tích ban đầu). Do loại trừ được sự biến thiên độ ẩm bên ngoài, khối lượng thể tích khô là thước đo khách quan và tin cậy nhất về mức độ kết đặc của khung cốt hạt đất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Mối quan hệ giải tích với các chỉ tiêu vật lý của đất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khối lượng thể tích khô liên hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu trạng thái vật lý của đất thông qua các biểu thức toán học giải tích:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Liên hệ với khối lượng thể tích tự nhiên và độ ẩm\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ti%C3%AAu%20chu%E1%BA%A9n%20qu%E1%BB%91c%20t%E1%BA%BF%22%7D}} ASTM International Committee D18 (2021), phương pháp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%B2ng%20th%C3%AD%20nghi%E1%BB%87m%22%7D}} xác định khối lượng thể tích của mẫu đất nguyên dạng bằng cách cân khối lượng mẫu và xác định thể tích qua phương pháp đo trực tiếp hoặc bọc sáp ngâm nước. Từ khối lượng thể tích tự nhiên và độ ẩm của mẫu đất, khối lượng thể tích khô được thiết lập qua mối liên hệ tương đương giải tích:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khối lượng thể tích khô bằng khối lượng thể tích tự nhiên chia cho tổng của một cộng với độ ẩm (với độ ẩm được biểu thị dưới dạng số thập phân). Biểu thức này bắt nguồn từ thực tế là tổng khối lượng mẫu đất ẩm bằng khối lượng hạt khô nhân với tổng của một cộng độ ẩm, trong khi tổng thể tích mẫu đất giữ nguyên không đổi.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Liên hệ với khối lượng riêng hạt, hệ số rỗng và độ lỗ rỗng\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Mức độ chặt của đất thể hiện trực tiếp qua tỷ lệ lỗ rỗng trong cấu trúc đất:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mối liên hệ với hệ số rỗng:\u003C\u002Fstrong> Khối lượng thể tích khô bằng khối lượng riêng hạt chia cho tổng của một cộng hệ số rỗng. Do thể tích hạt rắn bằng tổng thể tích khối đất chia cho một cộng hệ số rỗng, khi đất càng được đầm chặt thì hệ số rỗng càng giảm xuống, dẫn đến khối lượng thể tích khô tăng lên tương ứng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mối liên hệ với độ lỗ rỗng:\u003C\u002Fstrong> Khối lượng thể tích khô bằng tích số giữa khối lượng riêng hạt và hiệu số của một trừ độ lỗ rỗng. Khi độ lỗ rỗng của đất tiệm cận về không, khối lượng thể tích khô của đất sẽ tiến gần đến giới hạn khối lượng riêng của hạt khoáng vật.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý đầm nén đất và độ ẩm tối ưu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đầm nén là biện pháp cơ học tác dụng năng lượng động hoặc năng lượng tĩnh lên khối đất nhằm đẩy bớt không khí ra khỏi các lỗ rỗng, sắp xếp lại các hạt đất ở trạng thái chặt hơn, từ đó làm tăng khối lượng thể tích khô của đất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Cơ chế tương tác của nước trong quá trình đầm lèn\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong quá trình đầm nén, nước đóng vai trò quyết định đến hiệu quả gia tăng độ chặt của đất:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn khô hơn độ ẩm tối ưu:\u003C\u002Fstrong> Khi đất có độ ẩm thấp, lực ma sát và lực hút tĩnh điện giữa các hạt đất rất lớn, tạo nên lực cản đáng kể ngăn cản các hạt di chuyển lại gần nhau dưới tác dụng của năng lượng đầm nén. Khối lượng thể tích khô đạt được trong giai đoạn này thường ở mức thấp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn tiến tới độ ẩm tối ưu:\u003C\u002Fstrong> Khi bổ sung thêm một lượng nước thích hợp, màng nước mỏng bao quanh các hạt khoáng vật hoạt động như một {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A5t%20b%C3%B4i%20tr%C6%A1n%22%7D}} làm giảm ma sát giữa các hạt. Dưới cùng một công đầm nén, các hạt đất dễ dàng trượt qua nhau để sắp xếp vào các vị trí trống, làm cho khối lượng thể tích khô tăng dần và đạt giá trị cực đại tại điểm độ ẩm tối ưu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn ướt hơn độ ẩm tối ưu:\u003C\u002Fstrong> Khi độ ẩm vượt quá giá trị tối ưu, lượng nước dư thừa đã lấp đầy phần lớn các khoảng rỗng. Do nước là chất lỏng hầu như không thể bị nén dưới tải trọng tác dụng nhanh của công tác đầm nén, áp lực nước lỗ rỗng tăng lên và đẩy các hạt đất rời xa nhau, ngăn cản quá trình kết đặc tiếp tục diễn ra, khiến khối lượng thể tích khô sụt giảm nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Đường cong đầm nén và đường không bọt khí (Zero Air Voids)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Mối quan hệ giữa độ ẩm đầm nén và khối lượng thể tích khô được biểu diễn trên đồ thị bằng một đường cong dạng chuông đặc trưng. Đỉnh của đường cong biểu thị khối lượng thể tích khô cực đại tương ứng với một độ ẩm tối ưu duy nhất đối với một công đầm nén xác định.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh đường cong thực nghiệm là đường không bọt khí (đường Zero Air Voids), biểu diễn trạng thái lý thuyết khi toàn bộ các khoảng rỗng trong đất đều bị nước lấp đầy hoàn toàn và không còn sót lại bọt khí nào. Trong thực tế thi công cơ học, việc loại bỏ hoàn toàn một trăm phần trăm bọt khí kẹt trong đất là không thể thực hiện được, do đó đường cong đầm nén thực tế luôn nằm dưới và tiệm cận về phía bên trái của đường không bọt khí.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các phương pháp thí nghiệm xác định khối lượng thể tích khô\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để phục vụ công tác thiết kế và kiểm soát chất lượng thi công, các phương pháp thí nghiệm trong phòng và hiện trường đã được {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ti%C3%AAu%20chu%E1%BA%A9n%20h%C3%B3a%22%7D}} nghiêm ngặt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thí nghiệm đầm nén trong phòng thí nghiệm\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Có hai quy chuẩn đầm nén tiêu chuẩn được áp dụng phổ biến nhất trên phạm vi quốc tế:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn:\u003C\u002Fstrong> Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Thí nghiệm và Vật liệu Hoa Kỳ (ASTM International Committee D18, 2021), thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn sử dụng năng lượng đầm nén khoảng 600 kN-m\u002Fm3 để xác định quan hệ độ ẩm - khối lượng thể tích khô của đất. Phương pháp này áp dụng búa đầm rơi tự do để đầm đất thành ba lớp trong cối đầm kim loại có thể tích chuẩn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thí nghiệm đầm nén cải tiến:\u003C\u002Fstrong> Nhằm đáp ứng tải trọng ngày càng lớn của các công trình đường cao tốc và sân bay hiện đại, ASTM International Committee D18 (2021) quy định thí nghiệm đầm nén cải tiến sử dụng năng lượng đầm nén cao gấp khoảng 4.5 lần với mức 2700 kN-m\u002Fm3. Năng lượng đầm nén lớn hơn làm tăng đáng kể khối lượng thể tích khô cực đại đồng thời làm giảm độ ẩm tối ưu của đất.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Bảng đối chiếu thông số kỹ thuật đầm nén tiêu chuẩn và cải tiến\u003C\u002Fh3>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Thông số kỹ thuật\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đầm nén tiêu chuẩn (ASTM D698)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đầm nén cải tiến (ASTM D1557)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Năng lượng đầm nén danh định\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khoảng 600 kN-m\u002Fm3\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mức 2700 kN-m\u002Fm3 (gấp khoảng 4.5 lần)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Số lớp đất đầm trong cối\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ba lớp đất đầm nén đều nhau\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Năm lớp đất đầm nén đều nhau\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Khối lượng thể tích khô cực đại\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đạt giá trị chuẩn cơ sở\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cao hơn đáng kể so với đầm tiêu chuẩn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ ẩm tối ưu tương ứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cao hơn so với đầm cải tiến\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thấp hơn so với đầm tiêu chuẩn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phạm vi ứng dụng công trình\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đắp đập thủy lợi, nền đường thông thường\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nền đường cao tốc, đường cất hạ cánh sân bay\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch3>Phương pháp phễu rót cát tiêu chuẩn\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Phương pháp phễu rót cát là phương pháp kiểm tra hiện trường được áp dụng phổ biến đối với các lớp đất đắp nền đường, đập đất và móng công trình.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo tiêu chuẩn thực hành của ASTM International Committee D18 (2016), phương pháp phễu rót cát là phương pháp chuẩn hiện trường để xác định khối lượng thể tích và khối lượng thể tích khô của các lớp đất đắp tự nhiên hoặc đã qua đầm lèn. Kỹ thuật viên đào một hố thí nghiệm trên lớp đất đầm lèn, thu gom toàn bộ lượng đất đào để cân xác định khối lượng và sấy đo độ ẩm. Thể tích của hố đào được xác định chính xác bằng cách rót một loại cát chuẩn có khối lượng thể tích xác định từ phễu nón vào đầy hố đào. Từ khối lượng đất ẩm, thể tích hố đào và độ ẩm đo được, kỹ sư tính toán được khối lượng thể tích khô thực tế tại hiện trường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng trong kiểm soát hệ số đầm nén hiện trường\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khối lượng thể tích khô là thông số cốt lõi để {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%C3%A1nh%20gi%C3%A1%20ch%E1%BA%A5t%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} thi công nền móng thông qua hệ số đầm lèn (thường ký hiệu là hệ số K). Hệ số đầm nén K là tỷ số giữa khối lượng thể tích khô thực tế đo được tại hiện trường và khối lượng thể tích khô cực đại xác định được từ thí nghiệm đầm nén trong phòng thí nghiệm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các chỉ dẫn kỹ thuật thi công thường quy định độ chặt yêu cầu theo từng vị trí kết cấu: khu vực móng đường cao tốc đòi hỏi hệ số đầm nén rất cao nhằm triệt tiêu độ lún dư và tăng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20%C4%91un%20%C4%91%C3%A0n%20h%E1%BB%93i%22%7D}} của nền đường, trong khi các lớp đắp nền sâu phía dưới có thể chấp nhận hệ số đầm nén thấp hơn. Đạt được khối lượng thể tích khô thiết kế đảm bảo cho công trình hạn chế tối đa nguy cơ lún sụt không đều, trượt mái dốc và hư hỏng nứt vỡ mặt đường dưới tác động lặp của tải trọng giao thông.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ranh giới áp dụng và giới hạn kỹ thuật\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù là chỉ tiêu kiểm soát chất lượng thi công tiêu chuẩn, việc ứng dụng khối lượng thể tích khô cần lưu ý những ranh giới kỹ thuật cụ thể:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ảnh hưởng của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%C3%A0nh%20ph%E1%BA%A7n%20h%E1%BA%A1t%22%7D}} thô quá cỡ:\u003C\u002Fstrong> Tiêu chuẩn đầm nén trong phòng thường áp dụng cho hạt đất lọt qua sàng tiêu chuẩn nhất định. Đối với các loại đất đắp lẫn nhiều cuội sỏi kích thước lớn, khối lượng thể tích khô đo được cần phải được hiệu chỉnh theo các công thức hiệu chỉnh hạt thô để phản ánh đúng thực chất độ chặt của phần hạt mịn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đất hạt dính trương nở và co ngót:\u003C\u002Fstrong> Với các loại đất sét có tính trương nở cao, việc đầm nén quá chặt ở nhánh khô có thể tạo ra tiềm năng trương nở thể tích rất lớn khi đất tiếp xúc với nguồn ẩm sau này, đe dọa đẩy trồi kết cấu móng bên trên. Trong những trường hợp này, các kỹ sư địa kỹ thuật thường chủ động điều chỉnh độ ẩm đầm nén về phía nhánh ướt của độ ẩm tối ưu để giảm thiểu xu hướng trương nở thể tích.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hạn chế của phương pháp dao vòng lấy mẫu:\u003C\u002Fstrong> Phương pháp dao vòng chỉ phù hợp cho đất dính thuần túy mềm và đồng nhất không chứa sỏi sạn. Khi gặp đất cứng hoặc lẫn nhiều cốt liệu thô, dao vòng dễ làm xáo trộn kết cấu và làm sai lệch nghiêm trọng thể tích mẫu đo, buộc phải chuyển sang phương pháp phễu rót cát hoặc bọc sáp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","dry bulk density",[19,20],"dung trọng khô","dung trọng khô của đất","Khối lượng thể tích khô là tỷ số giữa khối lượng của các hạt khoáng chất khô của đất trên tổng thể tích ban đầu của khối đất bao gồm cả thể tích hạt rắn và thể tích các lỗ rỗng.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[24,32,37,43],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":31},"ASTM International Committee D18. (2021). Standard Test Methods for Laboratory Compaction Characteristics of Soil Using Standard Effort (12,400 ft-lbf\u002Fft3 (600 kN-m\u002Fm3)) (ASTM D698-12(2021)). ASTM International.","Standard Test Methods for Laboratory Compaction Characteristics of Soil Using Standard Effort (12,400 ft-lbf\u002Fft3 (600 kN-m\u002Fm3))","ASTM International Committee D18","ASTM International",2021,"10.1520\u002FD0698-12R21","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1520\u002FD0698-12R21",{"citationText":33,"title":34,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":35,"url":36},"ASTM International Committee D18. (2021). Standard Test Methods for Laboratory Compaction Characteristics of Soil Using Modified Effort (56,000 ft-lbf\u002Fft3 (2,700 kN-m\u002Fm3)) (ASTM D1557-12(2021)). ASTM International.","Standard Test Methods for Laboratory Compaction Characteristics of Soil Using Modified Effort (56,000 ft-lbf\u002Fft3 (2,700 kN-m\u002Fm3))","10.1520\u002FD1557-12R21","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1520\u002FD1557-12R21",{"citationText":38,"title":39,"authors":27,"source":28,"year":40,"doi":41,"url":42},"ASTM International Committee D18. (2016). Standard Test Method for Density and Unit Weight of Soil in Place by Sand-Cone Method (ASTM D1556\u002FD1556M-15e1). ASTM International.","Standard Test Method for Density and Unit Weight of Soil in Place by Sand-Cone Method",2016,"10.1520\u002FD1556_D1556M-15E01","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1520\u002FD1556_D1556M-15E01",{"citationText":44,"title":45,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":46,"url":47},"ASTM International Committee D18. (2021). Standard Test Methods for Laboratory Determination of Density (Unit Weight) of Soil Specimens (ASTM D7263-21). ASTM International.","Standard Test Methods for Laboratory Determination of Density (Unit Weight) of Soil Specimens","10.1520\u002FD7263-21","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1520\u002FD7263-21",[49,52,55,58],{"question":50,"answer":51},"Khối lượng thể tích khô khác gì khối lượng thể tích tự nhiên?","Khối lượng thể tích tự nhiên bao gồm cả khối lượng của nước có trong lỗ rỗng của đất trên một đơn vị thể tích, trong khi khối lượng thể tích khô chỉ tính riêng khối lượng của khung hạt khoáng chất khô sau khi sấy bốc hơi hết nước.",{"question":53,"answer":54},"Độ ẩm tối ưu trong thí nghiệm đầm nén có ý nghĩa gì?","Độ ẩm tối ưu là độ ẩm mà tại đó đất đạt được khối lượng thể tích khô cực đại dưới một năng lượng đầm nén nhất định, giúp đất đạt độ chặt tối ưu và tăng cường khả năng chịu lực của nền đắp.",{"question":56,"answer":57},"Hệ số đầm nén K được xác định như thế nào?","Hệ số đầm nén K được xác định bằng tỷ số giữa khối lượng thể tích khô đo đạc thực tế tại hiện trường sau khi lu lèn và khối lượng thể tích khô cực đại thu được từ thí nghiệm đầm nén Proctor trong phòng thí nghiệm.",{"question":59,"answer":60},"Phương pháp phễu rót cát hiện trường hoạt động theo nguyên lý nào?","Phương pháp phễu rót cát xác định thể tích hố đào tại hiện trường bằng cách sử dụng cát chuẩn có khối lượng thể tích biết trước chảy vào lấp đầy hố đào, từ đó tính được khối lượng thể tích tự nhiên và khối lượng thể tích khô của lớp đất.",{"id":62,"researcherId":10,"name":63,"imageUrl":64},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":62,"researcherId":10,"name":63,"imageUrl":64},[67,68,69,70,71,72,73,74,75,76],"hệ phân tán","không khí","hơi nước","tiêu chuẩn quốc tế","phòng thí nghiệm","chất bôi trơn","tiêu chuẩn hóa","đánh giá chất lượng","mô đun đàn hồi","thành phần hạt",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.852+00:00","2026-09-10T05:10:45.336+00:00","2026-09-10T04:25:08.724+00:00","2026-09-10T05:10:44.880+00:00",0,[86,89,92,95,98,101,104,107,110,113],{"id":87,"title":88,"term":87,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"sol gel","Sol-gel là gì? Các công bố khoa học về Sol gel",{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bibliometrics","Bibliometrics là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bibliometrics",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chất lượng thông tin","Chất lượng thông tin là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ứng suất","Ứng suất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ứng suất",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu tổng quan","Nghiên cứu tổng quan là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"cường độ chịu uốn","Cường độ chịu uốn là gì? Các nghiên cứu về Cường độ chịu uốn",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"density","Density là gì? Các công bố khoa học về Density",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phân compost","Phân compost là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phân compost",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vi nhân giống","Vi nhân giống là gì? Các công bố khoa học về Vi nhân giống"]