[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_kh%E1%BA%A3%20n%C4%83ng%20th%C3%B4ng%20kh%C3%AD{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_kh%E1%BA%A3%20n%C4%83ng%20th%C3%B4ng%20kh%C3%AD":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":51,"createUser":64,"publishUser":68,"keywords":69,"keywordCount":65,"enrichTopicLink":70,"status":71,"createTime":72,"updateTime":73,"publishTime":74,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":75,"wikidataId":10,"relateTopics":76},"khả năng thông khí","Khả năng thông khí (ventilatory capacity) là gì?","Khả năng thông khí là lưu lượng khí tối đa hệ hô hấp có thể trao đổi khi gắng sức, phản ánh năng lực vận hành của cơ hô hấp và dự trữ thông khí.","\u003Cp>Khả năng thông khí (ventilatory capacity) là mức giới hạn lưu lượng thể tích khí tối đa mà hệ thống cơ học hô hấp có thể luân chuyển vào và ra khỏi phổi trong một đơn vị thời gian dưới sự gắng sức tối đa của các cơ hô hấp. Chỉ số này phản ánh năng lực vận hành cao nhất của toàn bộ bộ máy thông khí bao gồm trung tâm điều hòa hô hấp, cấu trúc thành ngực, sức co bóp của các cơ hô hấp và sức cản của đường dẫn khí. Bài viết này phân tích cơ sở sinh lý học, phương pháp đo lường lâm sàng, khái niệm dự trữ thông khí, các cơ chế bệnh sinh gây suy giảm và phân biệt rõ ràng khả năng thông khí với quá trình thông khí sinh lý thông thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ sở sinh lý học của khả năng thông khí\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hệ thống hô hấp hoạt động như một bơm cơ học thể tích khí nén chịu sự chi phối của các quy luật vật lý về động lực học chất khí và tính đàn hồi của tổ chức sinh học. Khả năng thông khí tối đa của một cá nhân được xác định bởi sự cân bằng phức tạp giữa hai yếu tố đối lập: khả năng sinh lực của bơm cơ hô hấp và tải cơ học cản trở chuyển động của dòng khí.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khả năng sinh công của hệ thống phụ thuộc vào sức mạnh và sức bền của cơ hoành cùng các cơ hô hấp phụ như cơ liên sườn và cơ ức đòn chũm. Ngược lại, tải cơ học bao gồm sức cản ma sát đường thở đối với dòng khí chuyển động và sức kháng đàn hồi của nhu mô phổi cùng thành ngực. Khi thể tích phổi thay đổi, mối quan hệ giữa chiều dài và lực căng cơ hoành bị biến đổi theo quy luật sinh lý học cơ, ảnh hưởng trực tiếp đến áp lực âm tối đa mà lồng ngực có thể tạo ra trong thì hít vào.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phương pháp đo lường và lượng giá khả năng thông khí trên lâm sàng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong thực hành y khoa và thăm dò chức năng phổi, khả năng thông khí được định lượng thông qua các nghiệm pháp gắng sức và đo phế thân ký chuyên sâu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thông khí tự ý tối đa (Maximum Voluntary Ventilation - MVV)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Thông khí tự ý tối đa là chỉ số trực tiếp nhất để đánh giá trần thông khí của một cá thể. Trong nghiệm pháp này, đối tượng được yêu cầu hít thở nhanh và sâu hết mức có thể qua một ống ngậm đo lưu lượng trong khoảng thời gian ngắn, sau đó thể tích khí đo được sẽ được ngoại suy thành lưu lượng tính theo lít trên một phút.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Do nghiệm pháp đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp cao của bệnh nhân và dễ gây chóng mặt do hạ carbon dioxide máu cấp, giá trị thông khí tự ý tối đa còn được ước tính gián tiếp thông qua thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) từ phép đo hô hấp ký thông thường. Mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và khả năng duy trì lưu lượng khí tổng thể cho phép các nhà lâm sàng dự đoán gần đúng trần thông khí mà không làm bệnh nhân kiệt sức.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đo áp lực cơ hô hấp tối đa\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo hướng dẫn đồng thuận của Hội Hô hấp Châu Âu (Laveneziana và cộng sự, 2019), việc lượng giá toàn diện khả năng của bơm cơ học đòi hỏi phải thực hiện phép đo áp lực hít vào tối đa (MIP) tại miệng và áp lực thở ra tối đa (MEP). Áp lực hít vào tối đa phản ánh sức co của toàn bộ các cơ hít vào từ thể tích cặn (residual volume - RV), trong khi áp lực thở ra tối đa biểu thị sức mạnh của cơ thành bụng và cơ liên sườn trong. Sự sụt giảm của các chỉ số áp lực này là dấu hiệu cảnh báo sớm của tình trạng suy giảm khả năng thông khí do bệnh lý thần kinh cơ trước khi các thay đổi rõ rệt xuất hiện trên phế dung kế.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khái niệm dự trữ thông khí và giới hạn thông khí khi gắng sức\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong thử nghiệm gắng sức tim mạch hô hấp (CPET), khái niệm khả năng thông khí luôn được đặt trong mối tương quan với nhu cầu thông khí thực tế để xác định biên độ an toàn sinh lý của cơ thể.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Công thức xác định dự trữ thông khí\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Dự trữ thông khí (breathing reserve - BR) biểu thị tỷ lệ phần trăm giữa dung lượng thông khí chưa sử dụng so với trần thông khí tối đa khi đối tượng đạt mức gắng sức thể lực đỉnh:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">BR = \\frac{MVV - \\dot{V}_{E, peak}}{MVV} \\times 100\\%\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">MVV\u003C\u002Fscript> là thông khí tự ý tối đa và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\dot{V}_{E, peak}\u003C\u002Fscript> là lưu lượng thông khí phút đo được tại thời điểm gắng sức đỉnh. Ngoài ra, dự trữ thông khí cũng có thể được biểu thị trực tiếp dưới dạng hiệu số đại số tuyệt đối giữa \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">MVV\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\dot{V}_{E, peak}\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tiêu chuẩn giới hạn thông khí theo hướng dẫn ATS\u002FACCP (2003)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo tuyên bố tiêu chuẩn của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ và Trường môn Bác sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS\u002FACCP, 2003), ở những người khỏe mạnh bình thường, hệ thống hô hấp sở hữu một biên độ dự trữ rất lớn. Giới hạn chịu đựng khi gắng sức thể lực tối đa ở người bình thường thường do năng lực vận chuyển oxy của hệ tim mạch và chuyển hóa cơ bắp quyết định, ngoại trừ một số vận động viên sức bền đỉnh cao có thể chạm tới giới hạn thông khí cơ học khi vận động tối đa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tình trạng giới hạn thông khí (ventilatory limitation) được chẩn đoán xác định khi dự trữ thông khí tại thời điểm gắng sức đỉnh giảm sâu dưới ngưỡng 15 phần trăm hoặc khi hiệu số giữa thông khí tự ý tối đa và thông khí phút đỉnh nhỏ hơn 11 lít mỗi phút. Khi dự trữ cạn kiệt, đối tượng rơi vào trạng thái khó thở dữ dội và buộc phải dừng hoạt động thể lực do hệ hô hấp không còn khả năng tăng thêm lưu lượng khí để đáp ứng nhu cầu đào thải khí carbonic.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Chỉ số đánh giá\u003C\u002Fth>\u003Cth>Phương pháp thu nhận\u003C\u002Fth>\u003Cth>Ý nghĩa sinh lý học\u003C\u002Fth>\u003Cth>Ngưỡng cảnh báo giới hạn\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Thông khí tự ý tối đa (MVV)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Hít thở sâu nhanh tối đa hoặc ước tính qua FEV1\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Trần lưu lượng thể tích tối đa của hệ hô hấp\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Giảm sâu dưới giá trị dự đoán theo lứa tuổi\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Áp lực hít vào tối đa (MIP)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Đo áp lực hút tối đa tại miệng từ thể tích cặn\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Sức mạnh co bóp tối đa của toàn bộ các cơ hít vào (bao gồm cơ hoành và các cơ hô hấp phụ)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Giảm phản ánh suy yếu bơm cơ hô hấp\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Dự trữ thông khí (BR)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Tỷ số chênh lệch giữa MVV và thông khí phút đỉnh\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Biên độ an toàn thông khí khi gắng sức\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Dưới 15 phần trăm hoặc dưới 11 lít mỗi phút\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Độ dốc thông khí (VE\u002FVCO2 slope)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Phân tích khí thở liên tục trong nghiệm pháp CPET\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Hiệu quả thông khí và tỷ lệ khoảng chết\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Tăng cao phản ánh thông khí lãng phí\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Các cơ chế bệnh sinh làm suy giảm khả năng thông khí\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhiều bệnh lý hô hấp và toàn thân có thể làm suy giảm nghiêm trọng khả năng thông khí thông qua các cơ chế cơ học khác nhau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Bệnh phổi tắc nghẽn và hạn chế thể tích dự trữ\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), sự phá hủy cấu trúc đàn hồi nhu mô và hẹp lòng phế quản làm tăng vọt sức cản đường thở, đặc biệt trong thì thở ra. Khi tần số thở tăng lên trong lúc vận động, thời gian thở ra bị rút ngắn không đủ để đưa toàn bộ lượng khí hít vào thoát ra ngoài, dẫn tới hiện tượng bẫy khí và căng phồng phổi động (dynamic hyperinflation).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nghiên cứu của Guenette và cộng sự (2012) chỉ ra rằng sự co hẹp nghiêm trọng của thể tích hít vào dự trữ dẫn tới hạn chế giãn nở thể tích khí lưu thông là cơ chế then chốt thúc đẩy khó thở và hạn chế khả năng thông khí khi gắng sức ở bệnh nhân COPD, bất kể bệnh nhân có xuất hiện căng phồng phổi động tiến triển hay không. Hậu quả là dung tích dự trữ bị thu hẹp nghiêm trọng, làm cạn kiệt nhanh chóng dự trữ thông khí.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Bệnh lý hạn chế và xơ hóa nhu mô phổi\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đối với các bệnh phổi mô kẽ và xơ phổi, tổn thương lắng đọng collagen làm giảm tính giãn nở (compliance) của tổ chức phổi. Để tạo ra cùng một thể tích khí lưu thông, các cơ hô hấp phải tạo ra một áp lực âm lớn hơn rất nhiều so với bình thường, làm tăng công thở theo cấp số nhân.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo phân tích tổng quan của Gille và Laveneziana (2021), bệnh nhân mắc bệnh phổi mô kẽ thường có sự gia tăng độ dốc tỷ số giữa thông khí phút và lượng carbon dioxide sinh ra (VE\u002FVCO2 slope). Sự gia tăng này phản ánh tình trạng thông khí phế nang kém hiệu quả do tăng tỷ lệ khoảng chết sinh lý và rối loạn tương xứng giữa thông khí và tưới máu, buộc hệ thống hô hấp phải huy động mức thông khí phút cao hơn bình thường ngay cả ở các mức tải vận động nhẹ, thúc đẩy nhanh quá trình chạm trần khả năng thông khí.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Rối loạn thành ngực và suy yếu cơ hô hấp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Các bệnh lý thần kinh cơ như hội chứng xơ cứng teo cơ một bên, bệnh nhược cơ, hoặc biến dạng lồng ngực gù vẹo cột sống làm suy giảm khả năng thông khí thông qua việc hạn chế biên độ di động của khung xương sườn và giảm lực co bóp cơ năng của cơ hoành. Khi tải thông khí vượt quá sức chịu đựng của hệ thống cơ suy yếu, hiện tượng mỏi cơ hô hấp sẽ khởi phát, dẫn đến giảm thông khí phế nang toàn thể và gây toan hô hấp tăng carbonic máu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa lâm sàng và ứng dụng trong điều trị\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đánh giá chính xác khả năng thông khí đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng chiến lược can thiệp y khoa:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Đánh giá nguy cơ trước phẫu thuật lồng ngực và ổ bụng:\u003C\u002Fstrong> Xác định trần thông khí giúp tiên lượng nguy cơ biến chứng suy hô hấp sau mổ và khả năng chịu đựng của bệnh nhân khi phải cắt bỏ một phần thùy phổi.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Phục hồi chức năng hô hấp:\u003C\u002Fstrong> Thiết lập cường độ tập luyện thể lực phù hợp dựa trên dự trữ thông khí để tối ưu hóa năng lực hiếu khí của cơ bắp ngoại biên mà không đẩy bệnh nhân vào tình trạng khó thở quá mức do kiệt sức cơ hô hấp.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Cai thở máy trong hồi sức tích cực:\u003C\u002Fstrong> Đo lường các chỉ số như áp lực hít vào tối đa và thể tích khí lưu thông tự nhiên giúp bác sĩ đánh giá khả năng tự duy trì thông khí của bệnh nhân trước khi quyết định rút ống nội khí quản.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Phân biệt giữa khả năng thông khí và các khái niệm liên quan\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Cần phân biệt rõ ràng khả năng thông khí với quá trình thông khí và các khái niệm kỹ thuật khác nhằm tránh sự nhầm lẫn trong thuật ngữ chuyên ngành:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khả năng thông khí so với Quá trình thông khí (Ventilation):\u003C\u002Fstrong> Thông khí là hành vi sinh lý cơ học diễn ra liên tục từng giây nhằm trao đổi một lượng khí nhất định giữa khí quyển và phế nang ở trạng thái nghỉ ngơi hoặc vận động thông thường. Trong khi đó, khả năng thông khí là tiềm năng tối đa, tức là ngưỡng trần dung lượng cao nhất mà hệ thống cơ học có thể huy động được khi bị thử thách đến giới hạn. Một người bệnh COPD có thể vẫn duy trì được quá trình thông khí nghỉ ngơi bình thường nhưng khả năng thông khí tối đa đã bị thu hẹp đáng kể, khiến họ không còn bất kỳ dự trữ nào khi bước lên cầu thang.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khả năng thông khí của cơ thể so với Công suất thông khí của máy thở:\u003C\u002Fstrong> Trong hồi sức cấp cứu, công suất thông khí của thiết bị thở nhân tạo là khả năng cung cấp dòng khí và áp lực của máy cơ học hỗ trợ bên ngoài, khác với khả năng thông khí nội tại của hệ thống hô hấp bệnh nhân.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khả năng thông khí trong kiến trúc và xây dựng (HVAC):\u003C\u002Fstrong> Trong kỹ thuật môi trường, thông khí công trình đề cập đến lưu lượng trao đổi không khí tươi của hệ thống quạt và cửa gió tính bằng số lần thay đổi không khí mỗi giờ (ACH), hoàn toàn tách biệt với chức năng sinh lý học cơ thể người.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Mục từ này tập trung phân tích khả năng thông khí dưới góc độ sinh lý học chức năng và bệnh học lâm sàng thuộc nhóm ngành khoa học y tế và sức khỏe.\u003C\u002Fp>\n","ventilatory capacity",[19,20],"ventilatory capability","breathing capacity","Khả năng thông khí (ventilatory capacity) là mức giới hạn lưu lượng thể tích khí tối đa mà hệ thống cơ học hô hấp có thể luân chuyển vào và ra khỏi phổi trong một đơn vị thời gian dưới sự gắng sức tối đa của các cơ hô hấp.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[24,31,38,44],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":10},"ATS\u002FACCP. (2003). ATS\u002FACCP Statement on Cardiopulmonary Exercise Testing. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 167(2), 211-277.","ATS\u002FACCP Statement on Cardiopulmonary Exercise Testing","ATS\u002FACCP","American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine",2003,"10.1164\u002Frccm.167.2.211",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":10},"Laveneziana, P., Albuquerque, A., Aliverti, A., Babb, T., Barreiro, E., Dres, M., Dubé, B. P., Fauroux, B., Gea, J., Guenette, J. A., Hudson, A. L., Kabitz, H. J., Laghi, F., Langer, D., Luo, Y. M., Neder, J. A., O'Donnell, D., Polkey, M. I., Rabinovich, R. A., Rossi, A., Series, F., Similowski, T., Spengler, C. M., Vogiatzis, I., & Verges, S. (2019). ERS statement on respiratory muscle testing at rest and during exercise. European Respiratory Journal, 53(6), 1801214.","ERS statement on respiratory muscle testing at rest and during exercise","Laveneziana, Albuquerque, Aliverti, Babb, Barreiro","European Respiratory Journal",2019,"10.1183\u002F13993003.01214-2018",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":35,"year":42,"doi":43,"url":10},"Guenette, J. A., Webb, K. A., & O'Donnell, D. E. (2012). Does dynamic hyperinflation contribute to dyspnoea during exercise in patients with COPD?. European Respiratory Journal, 40(2), 322-329.","Does dynamic hyperinflation contribute to dyspnoea during exercise in patients with COPD?","Guenette, Webb, O'Donnell",2011,"10.1183\u002F09031936.00157711",{"citationText":45,"title":46,"authors":47,"source":48,"year":49,"doi":50,"url":10},"Gille, T., & Laveneziana, P. (2021). Cardiopulmonary exercise testing in interstitial lung diseases and the value of ventilatory efficiency. European Respiratory Review, 30(162), 200355.","Cardiopulmonary exercise testing in interstitial lung diseases and the value of ventilatory efficiency","Gille, Laveneziana","European Respiratory Review",2021,"10.1183\u002F16000617.0355-2020",[52,55,58,61],{"question":53,"answer":54},"Khả năng thông khí khác với quá trình thông khí như thế nào?","Quá trình thông khí là hành vi trao đổi khí cơ học thông thường diễn ra từng giây ở trạng thái nghỉ hoặc vận động nhẹ, trong khi khả năng thông khí là ngưỡng trần dung lượng lưu lượng tối đa mà hệ hô hấp có thể huy động được khi gắng sức đến cực hạn.",{"question":56,"answer":57},"Thông khí tự ý tối đa (MVV) được xác định bằng cách nào?","Thông khí tự ý tối đa có thể được đo trực tiếp bằng nghiệm pháp hít thở nhanh sâu tối đa qua lưu lượng kế trong thời gian ngắn rồi quy đổi thành lít mỗi phút, hoặc ước tính gián tiếp thông qua tích số giữa FEV1 với hệ số kinh nghiệm từ phép đo hô hấp ký.",{"question":59,"answer":60},"Dự trữ thông khí cạn kiệt báo hiệu điều gì trong nghiệm pháp gắng sức?","Dự trữ thông khí giảm sâu dưới 15 phần trăm hoặc hiệu số MVV trừ VE đỉnh nhỏ hơn 11 lít mỗi phút là tiêu chuẩn xác định tình trạng giới hạn thông khí khi gắng sức, cho thấy đối tượng buộc phải dừng vận động do bộ máy hô hấp đã chạm trần dung lượng.",{"question":62,"answer":63},"Tại sao hiện tượng căng phồng phổi động trong COPD làm giảm khả năng thông khí?","Hiện tượng bẫy khí và căng phồng phổi động đẩy thể tích cuối thì thở ra lên cao sát dung tích phổi toàn phần, làm co hẹp thể tích hít vào dự trữ và hạn chế khả năng giãn nở thể tích khí lưu thông khi gắng sức, làm cạn kiệt nhanh chóng biên độ dự trữ thông khí.",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:48.271+00:00","2026-09-17T13:30:32.121+00:00","2026-09-17T13:30:32.117+00:00",0,[77,86,92,97,103,108,114,120,125,130],{"id":78,"title":79,"term":78,"englishTitle":80,"definition":81,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":87,"title":88,"term":89,"englishTitle":90,"definition":91,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":95,"definition":96,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":98,"title":99,"term":100,"englishTitle":101,"definition":102,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":106,"definition":107,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":109,"title":110,"term":111,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":115,"title":116,"term":117,"englishTitle":118,"definition":119,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":128,"definition":129,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi.",{"id":131,"title":132,"term":131,"englishTitle":131,"definition":133,"discipline":22,"disciplineCode":82,"disciplineLabel":83,"disciplineColor":84,"disciplineIcon":85},"apexification","Apexification là gì? Kỹ thuật đóng chóp răng chưa hoàn thiện","Apexification (thủ thuật đóng chóp) là một phương pháp điều trị nội nha nhằm kích thích sự hình thành hàng rào khoáng hóa cứng (calcified barrier) hoặc đặt trực tiếp một nút chặn nhân tạo tại vùng cuống của răng vĩnh viễn chưa trưởng thành bị hoại tử tủy và mở rộng chóp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trám bít ống tủy kín khít hoàn toàn."]