[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_k%C3%ADch%20th%C3%ADch%20bu%E1%BB%93ng%20tr%E1%BB%A9ng%20nh%E1%BA%B9{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_kích thích buồng trứng nhẹ":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":53,"createUser":66,"publishUser":70,"keywords":71,"keywordCount":82,"enrichTopicLink":83,"status":84,"createTime":85,"updateTime":86,"publishTime":87,"linkEnrichedTime":88,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":89,"relateTopics":90},"kích thích buồng trứng nhẹ","Kích thích buồng trứng nhẹ là gì? Cơ sở sinh lý và lâm sàng","Kích thích buồng trứng nhẹ là chiến lược thụ tinh trong ống nghiệm dùng hormone liều thấp, giúp giảm chi phí và hạn chế nguy cơ quá kích buồng trứng.","\u003Cp>Kích thích buồng trứng nhẹ là chiến lược điều trị nội tiết trong thụ tinh trong ống nghiệm sử dụng các loại thuốc kích thích buồng trứng đường uống hoặc gonadotrophin ngoại sinh liều thấp kết hợp với thuốc đối kháng GnRH nhằm phát triển một số lượng noãn giới hạn có chất lượng sinh học tối ưu. Mục tiêu cốt lõi của phương pháp này là tạo ra phác đồ điều trị thân thiện với bệnh nhân, giảm thiểu rõ rệt nguy cơ quá kích buồng trứng, hạ thấp chi phí y tế và giảm gánh nặng tâm lý trong khi vẫn duy trì tỷ lệ sinh sống tích lũy tương đương với phác đồ kích thích truyền thống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Định nghĩa chuẩn mực và cơ sở sinh lý học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong phác đồ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%A5%20tinh%20trong%20%E1%BB%91ng%20nghi%E1%BB%87m%22%7D}} quy ước, mục tiêu điều trị truyền thống là tối đa hóa số lượng noãn chọc hút được nhằm bù đắp cho những tổn thất trong quá trình nuôi cấy phôi. Tuy nhiên, việc sử dụng gonadotrophin liều cao {{topic|%7B%22topic%22%3A%22k%C3%ADch%20th%C3%ADch%20bu%E1%BB%93ng%20tr%E1%BB%A9ng%22%7D}} quá mức thường đi kèm với các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20ch%E1%BB%A9ng%20nghi%C3%AAm%20tr%E1%BB%8Dng%22%7D}}, đặc biệt là hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS), đồng thời gây ra tình trạng nồng độ steroid sinh dục tăng vọt làm biến đổi cửa sổ làm tổ của nội mạc tử cung.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để chuẩn hóa thuật ngữ học thuật quốc tế, Hiệp hội Quốc tế về Kích thích Buồng trứng Nhẹ (ISMAAR), được công bố bởi Nargund và các cộng sự (2007), đã định nghĩa kích thích buồng trứng nhẹ là phương pháp trong đó gonadotrophin ngoại sinh được chỉ định ở liều thấp không quá 150 IU mỗi ngày, hoặc sử dụng các hợp chất điều hòa {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%A5%20th%E1%BB%83%20estrogen%22%7D}} đường uống (như clomiphene citrate) hay thuốc ức chế men aromatase (như letrozole), phối hợp cùng chất đối kháng GnRH, với mục tiêu thu nhận từ 2 đến 7 noãn trong một chu kỳ chọc hút.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt sinh lý học nội tiết, kích thích buồng trứng nhẹ tôn trọng cơ chế {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BB%8Dn%20l%E1%BB%8Dc%20t%E1%BB%B1%20nhi%C3%AAn%22%7D}} của nang noãn. Trong chu kỳ buồng trứng tự nhiên, chỉ có một nang noãn có độ nhạy cảm cao nhất với hormone kích thích nang noãn (FSH) vượt qua ngưỡng chọn lọc để phát triển thành nang tiền rụng trứng, trong khi các nang còn lại đi vào thoái hóa do nồng độ FSH nội sinh suy giảm theo cơ chế điều hòa ngược âm tính của estradiol và inhibin B. Bằng cách bổ sung một lượng gonadotrophin ngoại sinh vừa phải hoặc kéo dài cửa sổ mở của FSH thông qua thuốc uống kích thích giải phóng FSH từ tuyến yên, phác đồ nhẹ cho phép cứu vãn một đoàn hệ nhỏ từ 2 đến 7 noãn nhạy cảm mà không làm xáo trộn nghiêm trọng môi trường sinh hóa của buồng trứng và hệ trục hạ đồi - tuyến yên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phác đồ can thiệp lâm sàng phổ biến\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kích thích buồng trứng nhẹ được cá thể hóa dựa trên dự trữ buồng trứng và tiền sử điều trị của người bệnh, bao gồm các biến thể kỹ thuật chính:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Phác đồ phối hợp thuốc uống kích thích rụng trứng và gonadotrophin liều thấp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đây là phác đồ phổ biến nhất trong thực hành kích thích buồng trứng nhẹ. Bệnh nhân bắt đầu dùng clomiphene citrate hoặc letrozole từ ngày thứ hai hoặc ngày thứ ba của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22chu%20k%E1%BB%B3%20kinh%20nguy%E1%BB%87t%22%7D}} trong năm ngày liên tiếp. Thuốc uống kích thích thùy trước tuyến yên tăng tiết FSH nội sinh. Sau đó, gonadotrophin ngoại sinh được bổ sung ngắt quãng hoặc tiêm hàng ngày ở liều thấp không quá 150 IU mỗi ngày từ ngày thứ sáu hoặc thứ bảy của chu kỳ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi nang noãn dẫn đầu đạt đường kính chỉ định, chất đối kháng GnRH (GnRH antagonist) được sử dụng linh hoạt để ức chế đỉnh LH sớm, ngăn ngừa hiện tượng rụng trứng sớm ngoài ý muốn mà không gây ức chế sâu sắc thụ thể tuyến yên như phác đồ đồng vận GnRH dài ngày truyền thống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Phác đồ chất đối kháng GnRH đơn thuần liều cố định thấp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Phác đồ này chỉ sử dụng gonadotrophin ngoại sinh bắt đầu ngay từ đầu chu kỳ nhưng duy trì liều thấp cố định không quá 150 IU mỗi ngày, kết hợp bắt đầu tiêm thuốc đối kháng GnRH khi nang noãn đạt kích thước quy chuẩn hoặc vào ngày thứ sáu của chu kỳ kích thích. Phương pháp này loại bỏ hoàn toàn các tác động kháng estrogen kéo dài trên nội mạc tử cung vốn có thể gặp phải khi sử dụng clomiphene citrate.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hiệu quả lâm sàng và bằng chứng từ các nghiên cứu ngẫu nhiên\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhiều nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên và phân tích gộp quốc tế quy mô lớn đã cung cấp bằng chứng thuyết phục về hiệu quả của chiến lược kích thích nhẹ:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong nghiên cứu ngẫu nhiên đa trung tâm kinh điển được công bố trên tạp chí The Lancet, Heijnen và các cộng sự (2007) đã tiến hành {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%AD%20nghi%E1%BB%87m%20l%C3%A2m%20s%C3%A0ng%22%7D}} không kém hơn trên 404 bệnh nhân vô sinh, được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm: 205 bệnh nhân theo phác đồ kích thích nhẹ kết hợp chuyển một phôi duy nhất và 199 bệnh nhân theo phác đồ kích thích chuẩn truyền thống kết hợp chuyển hai phôi. Kết quả theo dõi toàn diện sau 1 năm cho thấy tỷ lệ sinh sống tích lũy dẫn đến sinh đơn thai đủ tháng đạt 43,4% ở nhóm kích thích nhẹ so với 44,7% ở nhóm kích thích chuẩn. Mức chênh lệch tuyệt đối chỉ là 1,3% và hoàn toàn nằm trong giới hạn không kém hơn đã định trước. Đặc biệt, tỷ lệ đa thai ở nhóm kích thích nhẹ giảm sâu ngoạn mục từ 13,1% ở nhóm truyền thống xuống chỉ còn 0,5%, đồng thời giảm thiểu đáng kể số ngày tiêm thuốc và chi phí y tế toàn diện cho người bệnh, trong khi các tiêu chí về lo âu hay khó chịu thể chất giữa hai nhóm được ghi nhận là tương đương nhau.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đối với nhóm bệnh nhân có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%C3%A1p%20%E1%BB%A9ng%20bu%E1%BB%93ng%20tr%E1%BB%A9ng%20k%C3%A9m%22%7D}} (poor ovarian responders - POR), tổng quan hệ thống và phân tích gộp của Datta và các cộng sự (2020) trên tạp chí Human Reproduction Update đã chỉ rõ rằng việc tăng liều gonadotrophin lên mức tối đa trong phác đồ truyền thống không hề cải thiện số lượng noãn hay tỷ lệ sinh sống. Tỷ số nguy cơ về tỷ lệ trẻ sinh sống giữa kích thích nhẹ và kích thích truyền thống ở nhóm đáp ứng kém là 0,91 với khoảng tin cậy 95% dao động từ 0,68 đến 1,22, chứng minh sự tương đương hoàn toàn về hiệu quả sinh sản giữa hai phương pháp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đồng thuận với kết luận trên, phân tích gộp chuyên sâu của Montoya-Botero và các cộng sự (2021) trên tạp chí Human Reproduction Open khẳng định tỷ lệ sinh sống tích lũy giữa kích thích nhẹ và kích thích quy ước ở bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém là hoàn toàn tương đương. Phác đồ nhẹ mang lại ưu thế khi cắt giảm đáng kể tổng liều lượng thuốc tiêm và rút ngắn thời gian kích thích; tuy nhiên người bệnh cần được tư vấn về tỷ lệ hủy chu kỳ cao hơn (RR 1,48 với khoảng tin cậy 95% từ 1,08 đến 2,02 trên 2.588 chu kỳ) do nang noãn không phát triển đạt yêu cầu hoặc rụng trứng sớm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nhóm đối tượng chỉ định lâm sàng phù hợp\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Theo đồng thuận quốc tế ISMAAR (Nargund và cộng sự, 2007) cùng các phân tích tổng quan của Datta và cộng sự (2020), kích thích buồng trứng nhẹ được xem xét chỉ định an toàn và phù hợp cho các nhóm đối tượng đặc thù:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>Bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém: Những phụ nữ có chỉ số dự trữ buồng trứng thấp (AMH thấp hoặc số nang noãn thứ cấp AFC giảm) không có khả năng huy động nhiều nang noãn dù sử dụng liều gonadotrophin rất cao. Phác đồ nhẹ giúp tối ưu hóa chất lượng noãn thu được mà không lãng phí chi phí thuốc men.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Bệnh nhân có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A9ng%20bu%E1%BB%93ng%20tr%E1%BB%A9ng%20%C4%91a%20nang%22%7D}} hoặc nguy cơ cao quá kích buồng trứng: Nhóm bệnh nhân có nguy cơ bùng phát OHSS nghiêm trọng khi kích thích buồng trứng thông thường. Việc giới hạn số nang phát triển từ 2 đến 7 noãn giúp hạn chế tối đa nguy cơ quá kích buồng trứng đe dọa tính mạng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Cặp vợ chồng ưu tiên phương pháp can thiệp tự nhiên, ít xâm lấn: Những người mong muốn quy trình điều trị nhẹ nhàng, hạn chế tối đa số lượng mũi tiêm và giảm thiểu nguy cơ tạo ra phôi dư thừa vì lý do đạo đức hoặc tôn giáo.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bảng so sánh phác đồ kích thích buồng trứng nhẹ và phác đồ truyền thống\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bảng dưới đây tổng hợp các điểm khác biệt cơ bản giữa kích thích buồng trứng nhẹ và kích thích buồng trứng truyền thống:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc điểm so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kích thích buồng trứng nhẹ\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kích thích buồng trứng truyền thống\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Liều gonadotrophin ngoại sinh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thấp (không quá 150 IU mỗi ngày hoặc chỉ dùng thuốc uống)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cao (liều gonadotrophin tiêu chuẩn cao)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Số lượng noãn mục tiêu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 2 đến 7 noãn tối ưu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thu nhận số lượng lớn noãn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nguy cơ quá kích buồng trứng (OHSS)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giảm thiểu rõ rệt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hiện diện đáng kể ở nhóm nguy cơ cao\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tỷ lệ trẻ sinh sống tích lũy\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tương đương ở nhóm đáp ứng kém\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tương đương ở nhóm đáp ứng kém\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tỷ lệ đa thai (kết hợp chuyển đơn phôi)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dưới 1%\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cao hơn đáng kể nếu chuyển nhiều phôi\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Gánh nặng tâm lý và số lần tiêm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thấp, thân thiện với bệnh nhân\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cao, cần tiêm hormone liên tục nhiều ngày\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Kích thích buồng trứng nhẹ đại diện cho bước chuyển dịch quan trọng trong y học sinh sản hiện đại: chuyển trọng tâm từ mục tiêu chạy theo số lượng noãn thô sang tối ưu hóa chất lượng noãn, tính an toàn tối đa cho người mẹ và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22hi%E1%BB%87u%20qu%E1%BA%A3%20chi%20ph%C3%AD%22%7D}} toàn diện cho mỗi ca sinh sống thành công.\u003C\u002Fp>","Kích thích buồng trứng nhẹ","mild ovarian stimulation",[20,21,22],"mild IVF","kích thích buồng trứng tối thiểu","mild stimulation IVF","Kích thích buồng trứng nhẹ là phương pháp điều trị hỗ trợ sinh sản sử dụng gonadotrophin ngoại sinh liều thấp không quá 150 IU mỗi ngày hoặc các thuốc kích thích rụng trứng đường uống kết hợp với chất đối kháng GnRH nhằm thu nhận từ 2 đến 7 noãn trong một chu kỳ, giúp hạn chế tối đa nguy cơ quá kích buồng trứng và tối ưu hóa tính an toàn cho người bệnh.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[26,33,39,46],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":10},"Nargund G et al. (2007). The ISMAAR proposal on terminology for ovarian stimulation for IVF. Human Reproduction, 22(11), 2801-2804.","The ISMAAR proposal on terminology for ovarian stimulation for IVF","Nargund G, Fauser BCJM, Macklon NS, Ombelet W, Nygren K, Frydman R","Human Reproduction",2007,"10.1093\u002Fhumrep\u002Fdem285",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":31,"doi":38,"url":10},"Heijnen EMEW et al. (2007). A mild treatment strategy for in-vitro fertilisation: a randomised non-inferiority trial. The Lancet, 369(9563), 743-749.","A mild treatment strategy for in-vitro fertilisation: a randomised non-inferiority trial","Heijnen EMEW, Eijkemans MJC, De Klerk C, Polinder S, Beckers NGM, Klinkert ER, Broekmans FJ, Passchier J, Te Velde ER, Macklon NS, Fauser BCJM","The Lancet","10.1016\u002FS0140-6736(07)60360-2",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":10},"Datta AK et al. (2020). Mild versus conventional ovarian stimulation for IVF in poor, normal and hyper-responders: a systematic review and meta-analysis. Human Reproduction Update, 27(2), 229-267.","Mild versus conventional ovarian stimulation for IVF in poor, normal and hyper-responders: a systematic review and meta-analysis","Datta AK, Maheshwari A, Felix N, Campbell S, Nargund G","Human Reproduction Update",2020,"10.1093\u002Fhumupd\u002Fdmaa035",{"citationText":47,"title":48,"authors":49,"source":50,"year":51,"doi":52,"url":10},"Montoya-Botero P et al. (2021). Fresh and cumulative live birth rates in mild versus conventional stimulation for IVF cycles in poor ovarian responders: a systematic review and meta-analysis. Human Reproduction Open, 2021(1), hoaa066.","Fresh and cumulative live birth rates in mild versus conventional stimulation for IVF cycles in poor ovarian responders: a systematic review and meta-analysis","Montoya-Botero P, Rodriguez-Purata J, Polyzos NP","Human Reproduction Open",2021,"10.1093\u002Fhropen\u002Fhoaa066",[54,57,60,63],{"question":55,"answer":56},"Kích thích buồng trứng nhẹ khác gì so với phác đồ kích thích truyền thống?","Kích thích buồng trứng nhẹ sử dụng liều hormone thấp hơn đáng kể (gonadotrophin ngoại sinh không quá 150 IU mỗi ngày hoặc dùng thuốc uống kích thích rụng trứng), nhằm thu nhận từ 2 đến 7 noãn có chất lượng sinh học tối ưu, trong khi phác đồ truyền thống dùng liều cao với mục tiêu thu hoạch số lượng lớn noãn nhưng đi kèm nguy cơ biến chứng quá kích buồng trứng cao hơn.",{"question":58,"answer":59},"Hiệu quả sinh sống tích lũy của kích thích nhẹ có kém hơn phác đồ truyền thống không?","Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên công bố trên The Lancet và các phân tích gộp quốc tế đã chứng minh tỷ lệ sinh sống tích lũy dẫn đến đơn thai đủ tháng sau 1 năm giữa phác đồ nhẹ và phác đồ chuẩn là hoàn toàn tương đương (43,4% so với 44,7%). Đặc biệt ở nhóm bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém, việc tăng liều hormone trong phác đồ truyền thống không mang lại thêm lợi ích nào về tỷ lệ sinh sống so với phác đồ nhẹ.",{"question":61,"answer":62},"Những nhóm bệnh nhân nào phù hợp nhất với kích thích buồng trứng nhẹ?","Kích thích buồng trứng nhẹ đặc biệt phù hợp cho ba nhóm đối tượng chính: (1) bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém có chỉ số dự trữ buồng trứng thấp (AMH hoặc số nang noãn thứ cấp AFC giảm), (2) bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang hoặc nguy cơ cao quá kích buồng trứng cần phác đồ an toàn, và (3) các cặp vợ chồng mong muốn quy trình điều trị nhẹ nhàng, hạn chế tối đa số mũi tiêm và giảm bớt gánh nặng chi phí y tế.",{"question":64,"answer":65},"Kích thích buồng trứng nhẹ có giúp giảm tỷ lệ đa thai không?","Có. Khi kết hợp chiến lược kích thích nhẹ với chính sách chuyển một phôi duy nhất (elective single embryo transfer - eSET), tỷ lệ đa thai được ghi nhận giảm ngoạn mục từ 13,1% ở phác đồ chuẩn xuống chỉ còn 0,5%, giúp bảo vệ an toàn tối đa sức khỏe cho cả mẹ và thai nhi.",{"id":67,"researcherId":10,"name":68,"imageUrl":69},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":67,"researcherId":10,"name":68,"imageUrl":69},[72,73,74,75,76,77,78,79,80,81],"thụ tinh trong ống nghiệm","kích thích buồng trứng","biến chứng nghiêm trọng","thụ thể estrogen","chọn lọc tự nhiên","chu kỳ kinh nguyệt","thử nghiệm lâm sàng","đáp ứng buồng trứng kém","hội chứng buồng trứng đa nang","hiệu quả chi phí",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:55:14.234+00:00","2026-09-12T15:09:55.145+00:00","2026-09-12T14:40:32.504+00:00","2026-09-12T15:09:54.553+00:00",0,[91,94,97,100,103,106,117,120,129,134],{"id":92,"title":93,"term":92,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu hồi cứu","Nghiên cứu hồi cứu là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nghiên cứu hồi cứu",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":98,"title":99,"term":98,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"yếu tố ảnh hưởng","Yếu tố ảnh hưởng là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"sf 36","SF-36 là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học về SF-36",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"xelox","Xelox là gì? Các nghiên cứu khoa học về Xelox",{"id":107,"title":108,"term":109,"englishTitle":110,"definition":111,"discipline":112,"disciplineCode":113,"disciplineLabel":114,"disciplineColor":115,"disciplineIcon":116},"giao phối","Giao phối là gì? Các nghiên cứu khoa học về Giao phối","Giao phối","mating","Giao phối là hành vi và quá trình sinh học trong sinh sản hữu tính, qua đó các cá thể khác giới kết hợp để chuyển giao và kết hợp giao tử đực với giao tử cái nhằm thụ tinh, tái tổ hợp vật chất di truyền và duy trì nòi giống.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hibiscus sabdariffa","Hibiscus sabdariffa là gì? Các nghiên cứu về Hibiscus sabdariffa",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":24,"disciplineCode":125,"disciplineLabel":126,"disciplineColor":127,"disciplineIcon":128},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":132,"definition":133,"discipline":112,"disciplineCode":113,"disciplineLabel":114,"disciplineColor":115,"disciplineIcon":116},"chuột bạch","Chuột bạch là gì? Đặc điểm sinh học, di truyền và mô hình y sinh","Laboratory Mouse","Chuột bạch là sinh vật mô hình thí nghiệm thuộc loài Mus musculus đã được thuần hóa và tuyển chọn di truyền, đóng vai trò then chốt trong nghiên cứu y sinh học và thử nghiệm tiền lâm sàng.",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":137,"definition":138,"discipline":24,"disciplineCode":125,"disciplineLabel":126,"disciplineColor":127,"disciplineIcon":128},"nghiên cứu can thiệp","Nghiên cứu can thiệp là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học","interventional study","Nghiên cứu can thiệp (interventional study) là loại thiết kế nghiên cứu dịch tễ học và y học lâm sàng trong đó nghiên cứu viên chủ động gán các biện pháp can thiệp (dược phẩm, thủ thuật, chế độ ăn, giáo dục sức khỏe) cho đối tượng nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của biện pháp đó."]