[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_hierodula{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_hierodula":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":53,"createUser":63,"publishUser":67,"keywords":68,"keywordCount":64,"enrichTopicLink":69,"status":70,"createTime":71,"updateTime":72,"publishTime":73,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":74,"wikidataId":10,"relateTopics":75},"hierodula","Hierodula (giant Asian mantis) là gì?","Hierodula là chi bọ ngựa châu Á thuộc họ Mantidae, nổi bật với cơ thể lớn, càng săn mồi chuyên hóa và các nghiên cứu phân loại theo cơ quan sinh dục đực.","\u003Cp>\u003Cstrong>Hierodula\u003C\u002Fstrong> là một chi bọ ngựa cỡ lớn thuộc phân họ Hierodulinae, họ Mantidae trong bộ Mantodea, phân bố bản địa chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương. Đây là nhóm côn trùng ăn thịt săn mồi phục kích điển hình trong hệ sinh thái trên cạn, nổi bật với cấu trúc cơ thể phát triển mạnh mẽ, khả năng thích nghi sinh thái đa dạng và vai trò sinh thái quan trọng trong việc kiểm soát quần thể các loài chân khớp khác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khái niệm và vị trí phân loại học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Về mặt danh pháp và lịch sử phân loại, chi Hierodula được thiết lập chính thức vào năm 1838 bởi nhà côn trùng học người Đức Hermann Burmeister trong chuyên khảo kinh điển về côn trùng học. Tên chi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại, phản ánh dáng đứng chắp hai chân trước đặc trưng như tư thế cầu nguyện của các loài bọ ngựa. Trong hệ thống phân loại sinh học hiện đại, chi này được xếp vào phân họ Hierodulinae, thuộc họ bọ ngựa Mantidae nằm trong bộ Mantodea.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo công trình rà soát phân loại học toàn diện của Liu và cộng sự (2021) công bố trên tạp chí Zootaxa, phân họ Hierodulinae bao gồm nhiều chi bọ ngựa có quan hệ họ hàng gần gũi, trong đó Hierodula là chi điển hình và có mức độ đa dạng loài cao. Nghiên cứu của Liu và cộng sự (2021) đã xác định rằng việc phân định chi Hierodula với các chi lân cận trong cùng phân họ đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các đặc điểm hình thái học ngoài và cấu trúc giải phẫu chuyên sâu, đặc biệt là hình thái cơ quan sinh dục đực và mức độ mở rộng của mảnh lưng ngực trước.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc điểm hình thái và cấu trúc giải phẫu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Các loài thuộc chi Hierodula sở hữu những đặc trưng giải phẫu thích nghi cao độ cho lối sống săn mồi ăn thịt phục kích:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Cấu tạo vùng đầu và cơ quan cảm giác:\u003C\u002Fstrong> Đầu có dạng hình tam giác tự do, liên kết với đốt ngực trước qua một khớp cổ mảnh mai cho phép đầu cử động xoay chuyển linh hoạt theo nhiều hướng. Đôi mắt kép hình bán cầu lồi hẳn ra ngoài ở hai bên đầu cung cấp trường quan sát thị giác lập thể rộng, cho phép bọ ngựa phán đoán chính xác cự ly và chuyển động của con mồi trong không gian ba chiều. Ba mắt đơn nhỏ nằm ở giữa trán hỗ trợ việc cảm nhận cường độ ánh sáng môi trường.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Mảnh lưng ngực trước (Pronotum):\u003C\u002Fstrong> Ngực trước của Hierodula dài và phát triển, có phần mép bên mở rộng nhẹ tạo thành hình chiếc khiên hẹp. Đây là đặc điểm nhận dạng quan trọng giúp phân biệt chi này với các chi bọ ngựa có mảnh ngực mở rộng dạng hình lá chắn lớn.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Càng bắt mồi chuyên dụng:\u003C\u002Fstrong> Đôi chân trước biến đổi hoàn toàn thành cặp càng bắt mồi kiểu kẹp bắt. Đùi chân trước dày và cơ bắp, mang hai hàng gai nhọn sắc bén ở mặt dưới; cẳng chân trước mảnh hơn, cũng mang các hàng gai nhỏ và kết thúc bằng một móng vuốt cong nhọn. Khi gập lại, cẳng chân khớp hoàn hảo vào rãnh đùi, tạo thành một chiếc bẫy kẹp cơ học có lực giữ cực kỳ vững chắc khiến con mồi khó có khả năng thoát thân.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Cánh và khả năng bay:\u003C\u002Fstrong> Cặp cánh trước biến đổi thành dạng cánh da dày để bảo vệ cơ thể và ngụy trang; cặp cánh sau mỏng dạng màng, xếp nếp như cánh quạt bên dưới cánh trước. Con đực thường có thân hình thon gọn và khả năng bay linh hoạt hơn con cái, trong khi con cái có phần bụng lớn chứa buồng trứng nên bay chậm hoặc chỉ di chuyển bằng cách bò chuyền cành.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>So sánh đặc điểm nhận dạng trong phân họ Hierodulinae\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhằm hỗ trợ công tác giám định mẫu vật côn trùng học, việc đối chiếu hình thái giữa Hierodula và các chi họ hàng gần trong cùng phân họ được tổng kết qua các chỉ số cấu trúc chính:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Chi phân loại\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Hình thái ngực trước (Pronotum)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đặc trưng càng bắt mồi\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Cơ quan sinh dục đực\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đặc điểm sinh thái nổi bật\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>\u003Cstrong>Hierodula\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Ngực trước dài, mép bên mở rộng hẹp tạo hình khiên thon\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đùi trước phát triển cơ bắp, mép bụng trước mang hàng gai sắc nhọn xen kẽ dài - ngắn; đốt háng trước ở một số loài có nốt sần hoặc đốm màu chẩn đoán\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Phức hợp dương cụ mang tính bất đối xứng điển hình; mấu đỉnh (paa) của phiến trái cong dạng móc; phiến bụng mang mấu tận cùng bên phát triển\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Sống trên tán cây bụi, tán cây rừng và vườn cây ăn quả\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>\u003Cstrong>Rhombodera\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Ngực trước mở rộng sang hai bên tạo hình lá chắn hình thoi rộng\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Càng bắt mồi to khỏe, hệ thống gai chịu lực giữ con mồi chắc chắn\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Phức hợp dương cụ bất đối xứng, mấu đỉnh phiến trái phát triển mạnh\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Ngụy trang hình chiếc lá trên các tầng cây cao nhiệt đới\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>\u003Cstrong>Titanodula\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Kích thước ngực trước cực lớn, thân hình đồ sộ vượt trội\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Càng bắt mồi to lớn, hệ thống gai dài và chịu lực lớn\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Cấu trúc mấu sinh dục đực phân nhánh đặc trưng\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Cư trú trong các sinh cảnh rừng nhiệt đới nguyên sinh\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Sự phân hóa cấu trúc giữa các chi phản ánh quá trình phân tỏa thích nghi vào các tầng không gian thảm thực vật khác nhau trong sinh cảnh rừng nhiệt đới.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế săn mồi và hành vi bắt mồi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Là loài săn mồi phục kích thượng hạng, bọ ngựa chi Hierodula dựa chủ yếu vào sự kết hợp giữa khả năng ngụy trang và phản xạ chớp nhoáng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Ngụy trang ẩn mình:\u003C\u002Fstrong> Màu sắc cơ thể của Hierodula chủ yếu là màu xanh lục tươi hoặc màu nâu vàng rơm, giúp chúng hòa lẫn hoàn hảo vào cành lá cây xung quanh. Chúng có thể giữ bất động tuyệt đối trong thời gian dài, đôi khi lắc nhẹ cơ thể bắt chước chuyển động của một chiếc lá rung rinh trong gió.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Định vị bằng thị giác:\u003C\u002Fstrong> Khi một con mồi bước vào phạm vi quan sát, bọ ngựa từ từ xoay đầu hướng về phía đối tượng mà không cử động thân mình. Việc định vị khoảng cách diễn ra thông qua sự phối hợp thị giác từ hai mắt kép, cho phép tính toán chính xác điểm chạm tối ưu.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Đòn tấn công chớp nhoáng:\u003C\u002Fstrong> Đòn vồ mồi của Hierodula diễn ra với tốc độ rất nhanh trong chớp mắt. Khi con mồi lọt vào tầm với, cặp chân trước vươn ra và gập lại giữ chặt con mồi trước khi đối tượng kịp phản ứng. Những chiếc gai nhọn trên đùi và cẳng chân găm sâu vào cơ thể con mồi, vô hiệu hóa mọi nỗ lực chống cự.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hành vi ăn mồi:\u003C\u002Fstrong> Ngay sau khi khống chế được con mồi, bọ ngựa dùng các phần phụ miệng kiểu nghiền nhai khỏe mạnh để cắn vào phần sau đầu hoặc ngực con mồi, làm đứt các hạch thần kinh vận động trước khi tiêu thụ toàn bộ cơ thể con mồi. Thức ăn của Hierodula bao gồm các loài bướm, ruồi, ong bắp cày, châu chấu, cào cào và đôi khi cả những động vật có xương sống nhỏ như ếch nhái non hoặc thằn lằn nhỏ nếu kích thước cho phép.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Sinh học phân tử và định loại loài\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bên cạnh các phương pháp hình thái học truyền thống, việc ứng dụng các chỉ thị sinh học phân tử đã mang lại những bước đột phá trong việc làm sáng tỏ ranh giới giữa các loài trong chi Hierodula vốn có nhiều dạng hình thái biến thiên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu của Shim và cộng sự (2021) trên tạp chí Zootaxa đã tập trung giải quyết bài toán phân định loài đối với bọ ngựa Hierodula patellifera. Đây là loài bọ ngựa phân bố phổ biến nhưng có sự biến dị phức tạp về màu sắc thân mình và các đốm sắc tố ở chân trước giữa các quần thể địa lý khác nhau. Bằng cách kết hợp phân tích vi hình thái với việc giải trình tự vùng gene mã hóa cho enzyme cytochrome c oxidase subunit I (COI) thuộc hệ gene ty thể, Shim và cộng sự (2021) đã chứng minh rằng các biến dị hình thái quan sát được tại các quần thể ở Hàn Quốc thực chất là biến dị kiểu hình nội loài của Hierodula patellifera, bác bỏ giả thuyết về sự tồn tại của loài ẩn mới tại khu vực khảo sát.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Sự du nhập và xâm lấn sinh học tại châu Âu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một trong những hiện tượng sinh thái thu hút sự chú ý đặc biệt của giới côn trùng học quốc tế kể từ năm 2013 là sự mở rộng vùng phân bố của chi Hierodula sang lục địa châu Âu:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu của Moulin (2020) công bố trên tạp chí Biodiversity Data Journal đã phân tích chi tiết quá trình du nhập của loài Hierodula patellifera vào lãnh thổ nước Pháp. Dữ liệu từ các nhà khoa học cộng đồng kết hợp với các đợt khảo sát thực địa cho thấy loài bọ ngựa này bắt đầu được ghi nhận sự xuất hiện tại miền nam nước Pháp từ năm 2013. Sau đó, số lượng điểm ghi nhận đã gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn 2017–2019, khẳng định rằng loài này đã thiết lập thành công các quần thể sinh sản tự nhiên ổn định ngoài tự nhiên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đồng thời, công trình nghiên cứu của Battiston và cộng sự (2020) trên tạp chí Biodiversity Data Journal cũng ghi nhận sự hiện diện và bành trướng mạnh mẽ của Hierodula patellifera tại khu vực miền bắc Italy. Các tác giả đã chỉ ra rằng phương thức vận chuyển cây cảnh ngoại lai và mạng lưới giao thông đường sắt, đường bộ xuyên quốc gia đóng vai trò là vector phát tán chủ đạo đưa bọ ngựa từ các vườn ươm sang các vùng sinh thái mới. Battiston và cộng sự (2020) nhấn mạnh rằng nhờ kích thước cơ thể lớn hơn và khả năng thích nghi cao, Hierodula patellifera tạo ra tiềm năng cạnh tranh sinh thái đối với loài bọ ngựa bản địa của châu Âu là Mantis religiosa, có thể tác động đến cấu trúc mạng lưới dinh dưỡng tại các sinh cảnh mới.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vòng đời và tập tính sinh sản\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Vòng đời của các loài thuộc chi Hierodula diễn ra theo phương thức biến thái không hoàn toàn, trải qua các giai đoạn phát triển nối tiếp nhau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn trứng và bọc trứng (Ootheca):\u003C\u002Fstrong> Sau khi giao phối, con cái tiết ra chất dịch protein dạng bọt từ các tuyến phụ sinh dục. Chất dịch này được quạt đều bằng các tấm van sinh dục để tạo thành một khối bọc xốp bọc lấy hàng trăm quả trứng xếp thành hàng bên trong. Khi tiếp xúc với không khí, lớp bọt nhanh chóng đông cứng lại thành một cấu trúc xốp dai, có khả năng chống thấm nước, cách nhiệt và ngăn chặn sự tấn công của các loài nấm mốc cũng như các loài ong ký sinh trứng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn ấu trùng (Nymph):\u003C\u002Fstrong> Sau thời gian phát triển phôi, các ấu trùng non nở ra đồng loạt qua các khe hở ở mặt trên bọc trứng. Ấu trùng non mới nở có hình dạng tương tự như con trưởng thành thu nhỏ nhưng chưa có cánh và cơ quan sinh dục. Trong suốt quá trình lớn lên, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác liên tiếp. Mỗi lần lột xác giúp kích thước cơ thể tăng lên và mầm cánh ngày càng phát triển rõ rệt.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng ăn thịt đồng loại (Cannibalism):\u003C\u002Fstrong> Giống như nhiều đại diện khác của bộ Mantodea, các loài trong chi Hierodula có tập tính ăn thịt đồng loại khá phổ biến. Ngay từ giai đoạn ấu trùng non, các cá thể có thể săn bắt lẫn nhau nếu mật độ quần thể quá dày hoặc thiếu hụt thức ăn. Trong quá trình giao phối, con cái đôi khi tấn công và ăn thịt con đực ngay trong hoặc sau khi giao phối, cung cấp nguồn dinh dưỡng giàu protein để nuôi dưỡng mầm trứng phát triển.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa sinh thái và giá trị thực tiễn\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong các sinh cảnh tự nhiên cũng như các hệ sinh thái nông nghiệp và đô thị, chi Hierodula giữ nhiều vai trò quan trọng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm soát sinh học sâu hại:\u003C\u002Fstrong> Với bản tính săn mồi phàm ăn, bọ ngựa Hierodula là thiên địch tự nhiên đắc lực giúp kìm hãm số lượng của nhiều loài sâu hại nông nghiệp, bao gồm rầy mềm, sâu bướm, bọ cánh cứng và châu chấu hại mùa màng. Việc duy trì quần thể bọ ngựa trong các vườn cây ăn quả và trang trại hữu cơ góp phần giảm thiểu nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Chỉ thị sinh thái:\u003C\u002Fstrong> Do nằm ở bậc dinh dưỡng cao trong giới côn trùng và nhạy cảm với các loại hóa chất trừ sâu phổ rộng, sự hiện diện của quần thể bọ ngựa Hierodula khỏe mạnh thường được xem là dấu hiệu phản ánh một hệ sinh thái thảm thực vật có độ phong phú thức ăn và mức độ an toàn môi trường tương đối tốt.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Đối tượng nghiên cứu thị giác và cơ chế sinh học:\u003C\u002Fstrong> Nhờ hệ thống mắt kép có độ phân giải cao và cơ chế thị giác lập thể tinh vi, các loài bọ ngựa lớn thuộc chi Hierodula thường xuyên được sử dụng làm sinh vật mô hình trong các nghiên cứu về khoa học thần kinh thị giác, thị giác máy tính và công nghệ chế tạo robot phỏng sinh học bắt chước cơ cấu cánh tay kẹp tốc độ cao.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Thách thức nghiên cứu và các vấn đề còn mở\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù chi Hierodula đã được biết đến từ lâu, công tác nghiên cứu về nhóm bọ ngựa này vẫn đối mặt với một số câu hỏi khoa học cần tiếp tục giải quyết:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Sự phức tạp về phân loại học:\u003C\u002Fstrong> Số lượng loài trong chi Hierodula rất lớn với nhiều mô tả lịch sử còn sơ lược, thiếu mẫu chuẩn đối sánh hoặc dựa trên các biến thể màu sắc đơn thuần. Việc tiếp tục rà soát phân loại học kết hợp hình thái cơ quan sinh dục và dữ liệu phân tử như các nghiên cứu của Liu và cộng sự (2021) vẫn là nhiệm vụ cấp thiết để xác lập danh lục loài chuẩn xác.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Theo dõi động thái xâm lấn sinh học:\u003C\u002Fstrong> Mức độ tác động dài hạn của các quần thể bọ ngựa Hierodula du nhập đối với các loài côn trùng thụ phấn bản địa và các loài bọ ngựa địa phương tại châu Âu đòi hỏi những chương trình giám sát sinh học liên tục qua nhiều năm nhằm đánh giá chính xác rủi ro sinh thái.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Bảo tồn sinh cảnh sống:\u003C\u002Fstrong> Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và việc sử dụng thuốc trừ sâu thiếu kiểm soát tại các vùng nông thôn nhiệt đới đang đe dọa các quần thể thiên địch tự nhiên, đặt ra yêu cầu bảo vệ đa dạng sinh học côn trùng ăn thịt có ích trong chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Hierodula","giant Asian mantis",[20,21],"chi bọ ngựa châu Á","chi Hierodula","Hierodula là một chi bọ ngựa ăn thịt cỡ lớn thuộc phân họ Hierodulinae trong họ Mantidae, phân bố bản địa chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương, đặc trưng bởi tấm ngực trước dài và đôi chân bắt mồi lực lưỡng.","NATURAL_SCIENCES",[25,33,39,47],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Liu, Q.-P., Liu, Z.-J., Wang, G.-L. & Yin, Z.-X. (2021). Taxonomic revision of the praying mantis subfamily Hierodulinae of China (Mantodea: Mantidae). Zootaxa, 4951(3), 401-433.","Taxonomic revision of the praying mantis subfamily Hierodulinae of China (Mantodea: Mantidae)","LIU, LIU, WANG, YIN","Zootaxa",2021,"10.11646\u002Fzootaxa.4951.3.1","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.11646\u002Fzootaxa.4951.3.1",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":29,"year":30,"doi":37,"url":38},"Shim, J., Park, H., Kim, S., Ju, H. & Song, J. (2021). Species delimitation of the praying mantis Hierodula patellifera (Audinet-Serville) based on morphological and molecular characters (Mantodea: Mantidae). Zootaxa, 4951(1), 147-158.","Species delimitation of the praying mantis Hierodula patellifera (Audinet-Serville) based on morphological and molecular characters (Mantodea: Mantidae)","Shim, Park, Kim, Ju, Song","10.11646\u002Fzootaxa.4951.1.7","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.11646\u002Fzootaxa.4951.1.7",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":46},"Moulin, N. (2020). When Citizen Science highlights alien invasive species in France: the case of Indochina mantis, Hierodula patellifera (Insecta, Mantodea, Mantidae). Biodiversity Data Journal, 8, e46989.","When Citizen Science highlights alien invasive species in France: the case of Indochina mantis, Hierodula patellifera (Insecta, Mantodea, Mantidae)","Moulin","Biodiversity Data Journal",2020,"10.3897\u002Fbdj.8.e46989","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.3897\u002Fbdj.8.e46989",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":43,"year":44,"doi":51,"url":52},"Battiston, R., Amerini, R., Di Pietro, W., Guariento, L. A., Bolognin, L. & Moretto, E. (2020). A new alien mantis in Italy: is the Indochina mantis Hierodula patellifera chasing the train for Europe? Biodiversity Data Journal, 8, e50779.","A new alien mantis in Italy: is the Indochina mantis Hierodula patellifera chasing the train for Europe?","Battiston, Amerini, Di Pietro, Guariento, Bolognin, Moretto","10.3897\u002Fbdj.8.e50779","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.3897\u002Fbdj.8.e50779",[54,57,60],{"question":55,"answer":56},"Chi Hierodula thuộc nhóm côn trùng nào?","Hierodula là một chi bọ ngựa ăn thịt thuộc phân họ Hierodulinae, họ Mantidae, bộ Bọ ngựa (Mantodea).",{"question":58,"answer":59},"Đặc điểm săn mồi nổi bật nhất của Hierodula là gì?","Hierodula là loài săn mồi phục kích, ngụy trang kín đáo trong tán lá và dùng đôi chân trước dạng càng gấp với các gai nhọn để phóng bắt con mồi chớp nhoáng.",{"question":61,"answer":62},"Tiêu chuẩn chẩn đoán cốt lõi để phân định các loài trong chi Hierodula là gì?","Trong phân loại học hiện đại, cấu trúc phức hợp cơ quan sinh dục ngoài của con đực kết hợp với các chỉ thị sinh học phân tử (như gen ty thể COI) là tiêu chuẩn cốt lõi để định danh loài.",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:07.334+00:00","2026-10-20T02:36:08.329+00:00","2026-10-20T02:36:08.295+00:00",0,[76,85,89,94,99,104,109,114,119,124],{"id":77,"title":78,"term":77,"englishTitle":79,"definition":80,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"đồng vị bền","Đồng vị bền: Bản chất hạt nhân, cơ chế phân đoạn và ứng dụng thực tiễn","Stable isotope","Đồng vị bền là các biến thể của một nguyên tố hóa học có cùng số proton nhưng khác số neutron, sở hữu cấu trúc hạt nhân ổn định vĩnh viễn hoặc chu kỳ bán rã vượt xa tuổi vũ trụ, không tự phát phóng xạ.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":86,"title":87,"term":86,"englishTitle":86,"definition":88,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.",{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":92,"definition":93,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"nhiệt độ nóng chảy","Nhiệt độ nóng chảy là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","nhiet do nong chay","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":97,"definition":98,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"hằng số tốc độ","Hằng số tốc độ là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","rate constant","Hằng số tốc độ (Reaction Rate Constant, ký hiệu k) là một hệ số tỷ lệ đặc trưng trong phương trình động học biểu thị tốc độ của phản ứng hóa học khi nồng độ của tất cả các chất phản ứng bằng đơn vị.",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":102,"definition":103,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"động vật linh trưởng","Động vật linh trưởng là gì? Tiến hóa Perelman, giải phẫu Fleagle và Estrada","primates","Động vật linh trưởng là một bộ thú có vú bậc cao đặc trưng bởi bàn tay ngón cái đối diện, thị giác lập thể 3D và vỏ não phát triển, tiến hóa qua các nhánh Mũi ướt và Mũi khô theo nghiên cứu Perelman-Fleagle.",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"đồng vị","Đồng vị là gì? Phân loại và ứng dụng trong khoa học hiện đại","isotope","Đồng vị là các biến thể của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số proton trong hạt nhân nhưng khác nhau về số neutron, dẫn đến khối lượng nguyên tử khác nhau.",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"chu trình sinh địa hóa","Chu trình sinh địa hóa: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Biogeochemical cycle","Chu trình sinh địa hóa là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực natural sciences, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":117,"definition":118,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"ethylene","Ethylene là gì? Cấu trúc hóa học, vai trò sinh học và ứng dụng","Ethylene","Ethylene (ethene, công thức hóa học C2H4) là một hydrocarbon không no thuộc nhóm anken đơn giản nhất, tồn tại ở thể khí không màu, đồng thời là một phytohormone dạng khí điều hòa sự chín và rụng ở thực vật.",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"không khí ẩm","Không khí ẩm là gì? Các công bố khoa học về Không khí ẩm","moist air","Không khí ẩm là hỗn hợp nhiệt động học giữa không khí khô và hơi nước, có các thông số đặc trưng gồm độ ẩm tương đối, độ ẩm tuyệt đối và nhiệt độ điểm sương.",{"id":125,"title":126,"term":125,"englishTitle":127,"definition":128,"discipline":23,"disciplineCode":81,"disciplineLabel":82,"disciplineColor":83,"disciplineIcon":84},"hệ số phân bố","Hệ số phân bố là gì? Ý nghĩa trong hóa học và dược lý","Partition Coefficient","Hệ số phân bố (partition coefficient, ký hiệu P hoặc log P) là đại lượng nhiệt động học biểu thị tỷ lệ nồng độ cân bằng của một chất tan không phân ly giữa hai dung môi không trộn lẫn (thường là 1-octanol và nước)."]