[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_hi%E1%BB%87n%20t%C6%B0%E1%BB%A3ng%20v%C3%B2m%20%C4%91%E1%BA%A5t{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_hiện tượng vòm đất":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":53,"createUser":63,"publishUser":67,"keywords":68,"keywordCount":79,"enrichTopicLink":80,"status":81,"createTime":82,"updateTime":83,"publishTime":84,"linkEnrichedTime":85,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":86,"relateTopics":87},"hiện tượng vòm đất","Hiện tượng vòm đất: Bản chất cơ học và ứng dụng địa kỹ thuật","Tìm hiểu hiện tượng vòm đất: nguyên lý cơ học của Terzaghi, thí nghiệm cửa sập, mô hình giải tích và ứng dụng trong thiết kế hầm và nền đắp cọc.","\u003Cp>Hiện tượng vòm đất (tiếng Anh: soil arching effect) là sự phân bố lại ứng suất bên trong khối đất rời hoặc đất dính, trong đó một phần tải trọng từ vùng đất có xu hướng lún hoặc chuyển vị được truyền sang các vùng đất ổn định liền kề thông qua sự huy động ứng suất cắt tiếp tuyến dọc theo các mặt trượt ranh giới. Hiện tượng cơ học này đóng vai trò then chốt trong việc giảm tải áp lực đất tác dụng lên nóc các công trình ngầm như hầm xuyên núi, cống đặt ngầm, hố đào sâu và nền đường đắp có cọc đỡ, đồng thời là cơ sở lý thuyết nền tảng để thiết kế an toàn và kinh tế cho các kết cấu địa kỹ thuật hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bối cảnh lịch sử và thí nghiệm cửa sập kinh điển của Karl Terzaghi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hiện tượng vòm đất đã được ghi nhận trực quan trong thực tế thi công mỏ và đường hầm từ thế kỷ mười chín, song chỉ đến năm 1943, lý thuyết cơ học đất chính thống mới được hệ thống hóa một cách hoàn chỉnh bởi Karl Terzaghi trong cuốn sách kinh điển Theoretical Soil Mechanics do nhà xuất bản John Wiley &amp; Sons phát hành. Để mô phỏng hiện tượng này một cách khoa học trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%B2ng%20th%C3%AD%20nghi%E1%BB%87m%22%7D}}, Terzaghi đã sáng chế ra thí nghiệm cửa sập (trapdoor experiment).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Mô hình thí nghiệm bao gồm một thùng chứa cát có đáy phẳng, trong đó một dải đáy hẹp đóng vai trò như một cửa sập có thể dịch chuyển hạ xuống hoặc đẩy lên độc lập. Khi cửa sập bắt đầu dịch chuyển hạ thấp xuống một khoảng rất nhỏ, khối cát nằm ngay phía trên cửa sập có xu hướng lún trượt theo trọng lực. Chuyển vị tương đối này làm phát sinh ma sát và ứng suất cắt ngược hướng chuyển động dọc theo hai mặt trượt thẳng đứng kéo dài từ mép cửa sập lên trên. Ứng suất cắt này đỡ lấy một phần đáng kể trọng lượng của cột đất phía trên, dẫn đến việc áp lực thẳng đứng tác dụng lên cửa sập giảm đột ngột, trong khi ứng suất truyền sang hai bệ đỡ cố định hai bên tăng vọt. Terzaghi đã dùng kết quả này để thiết lập mô hình cân bằng giới hạn một chiều đầu tiên trong cơ học đất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế vật lý và phương trình cân bằng ứng suất Terzaghi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để định lượng hiện tượng vòm đất, Karl Terzaghi đã thiết lập phương trình cân bằng vi phân cho một lát cắt đất nằm ngang có bề rộng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">B\u003C\u002Fscript> và chiều dày vi phân \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">dz\u003C\u002Fscript> ở độ sâu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> bên trên cửa sập:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Điều kiện phá hoại Mohr-Coulomb\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sức kháng cắt giới hạn của đất dọc theo các mặt trượt biên tuân theo tiêu chuẩn Mohr-Coulomb:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\tau = c + \\sigma_n \\tan \\phi\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c\u003C\u002Fscript> là lực dính đơn vị, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi\u003C\u002Fscript> là góc ma sát trong của đất, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma_n\u003C\u002Fscript> là ứng suất pháp tuyến tác dụng lên mặt trượt thẳng đứng. Ứng suất pháp tuyến này liên hệ với ứng suất thẳng đứng trung bình \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma_v\u003C\u002Fscript> thông qua hệ số áp lực đất \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">K\u003C\u002Fscript>: \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma_n = K \\sigma_v\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Phương trình vi phân cân bằng lực thẳng đứng\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Xét cân bằng lực thẳng đứng của lát cắt vi phân với trọng lượng thể tích của đất là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma\u003C\u002Fscript>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">B \\frac{d\\sigma_v}{dz} = B \\gamma - 2 c - 2 K \\sigma_v \\tan \\phi\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Giải {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20tr%C3%ACnh%20vi%20ph%C3%A2n%20tuy%E1%BA%BFn%20t%C3%ADnh%22%7D}} bậc một với điều kiện biên tại mặt đất (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z = 0\u003C\u002Fscript>) chịu tải trọng rải đều \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">q\u003C\u002Fscript>, nghiệm giải tích của ứng suất thẳng đứng ở độ sâu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> được xác định theo công thức Terzaghi:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma_v(z) = \\frac{B \\gamma - 2c}{2 K \\tan \\phi} \\left( 1 - e^{- \\frac{2 K z \\tan \\phi}{B}} \\right) + q e^{- \\frac{2 K z \\tan \\phi}{B}}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi độ sâu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> tăng lên đáng kể so với bề rộng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">B\u003C\u002Fscript>, thành phần mũ suy giảm nhanh về không, khiến ứng suất tác dụng lên đáy hầm tiệm cận một giá trị giới hạn hữu hạn độc lập với chiều sâu chôn đất. Điều này giải thích tại sao áp lực đất lên đỉnh đường hầm sâu hoặc cống ngầm không tăng tuyến tính theo chiều sâu như dự báo theo trọng lượng bản thân lớp đất phủ thông thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân tích hình học đường vòm ứng suất của Richard Handy\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù mô hình mặt trượt thẳng đứng của Terzaghi cung cấp một công cụ giải tích đơn giản và tiện dụng cho kỹ sư thực hành, nó giả định phân bố ứng suất cắt đồng đều và chưa mô tả được chính xác hình dạng quỹ đạo ứng suất trong khối đất. Năm 1985, Richard L. Handy đã công bố một nghiên cứu có tính đột phá trên Journal of Geotechnical Engineering mang tên The Arch in Soil Arching.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Handy đã chứng minh bằng giải tích giải {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20tr%C3%ACnh%20vi%20ph%C3%A2n%22%7D}} quỹ đạo ứng suất chính rằng trong môi trường đất rời hạt thô đồng nhất, quỹ đạo của ứng suất nén chính phụ (minor principal stress) không phải là một đường parabol đơn giản hay cung tròn mà là một đường dây xích (catenary curve). Quỹ đạo dây xích này tương ứng với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BA%A1ng%20th%C3%A1i%20%E1%BB%A9ng%20su%E1%BA%A5t%22%7D}} cắt bằng không dọc theo trục vòm, tạo nên một vòm nén tự nhiên truyền toàn bộ tải trọng sang hai mố vòm cố định. Nghiên cứu của Handy đã đặt cầu nối cơ học vững chắc giữa hình thái học kết cấu và trạng thái ứng suất giới hạn trong môi trường hạt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các mô hình vòm đất hiện đại và nghiên cứu nền đắp có cọc\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong các thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của công trình giao thông và hạ tầng ngầm, lý thuyết tạo vòm đã được mở rộng mạnh mẽ sang các bài toán không gian hai chiều và ba chiều:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Mô hình vòm đất đồng tâm và nền đắp có cọc đỡ\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Năm 2012, Suzanne van Eekelen và các cộng sự tại Hà Lan đã công bố công trình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nghi%C3%AAn%20c%E1%BB%A9u%20th%E1%BB%B1c%20nghi%E1%BB%87m%22%7D}} quy mô trên Geotextiles and Geomembranes về hiệu ứng tạo vòm trong nền đắp gia cố cọc có lưới địa kỹ thuật. Bằng các cảm biến đo áp lực đất chi tiết, nhóm nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ chế truyền tải trọng hình học, đặt nền tảng thực nghiệm vững chắc cho mô hình vòm đất đồng tâm (concentric arches model) trong các nghiên cứu tiếp theo. Mô hình này mô tả tải trọng đất được truyền hình cầu theo các vòm ứng suất đồng tâm trực tiếp vào mũ cọc cứng, giải thích chính xác sự giảm ứng suất tác dụng lên lớp lưới địa kỹ thuật nằm giữa các cọc.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Nghiên cứu mô hình ly tâm của Iglesia, Einstein và Whitman\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Năm 2014, G. R. Iglesia, H. H. Einstein và R. V. Whitman đã công bố trên Journal of Geotechnical and Geoenvironmental Engineering công trình nghiên cứu thực nghiệm ly tâm (centrifuge tests) về hiện tượng vòm đất trong cát khô. Bằng cách tăng gia tốc trọng trường trong máy quay ly tâm, các tác giả đã tái tạo chính xác mức ứng suất hiệu dụng quy mô hiện trường trên mô hình thu nhỏ. Nghiên cứu phân định rõ bốn trạng thái chuyển tiếp của vòm đất theo mức độ chuyển vị của cửa sập:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Giai đoạn tiến triển\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Mức chuyển vị cửa sập\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Cơ chế {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%E1%BB%A9ng%20su%E1%BA%A5t%20bi%E1%BA%BFn%20d%E1%BA%A1ng%22%7D}}\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Mức độ chịu tải của cửa sập\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Trạng thái ban đầu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chuyển vị bằng không\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đất ở trạng thái tĩnh đàn hồi tự nhiên\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Áp lực bằng ứng suất địa tĩnh do trọng bản thân lớp đất phủ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Tạo vòm đàn hồi\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chuyển vị rất nhỏ\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Ứng suất nén xoay hướng, hình thành vòm ứng suất\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Áp lực thẳng đứng giảm mạnh tới giá trị cực tiểu\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Tạo vòm cực đại\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chuyển vị đạt ngưỡng tới hạn\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Huy động toàn bộ sức kháng cắt Mohr-Coulomb\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Áp lực giữ ở mức thấp nhất, hiệu ứng vòm đạt đỉnh\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Suy thoái dẻo\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chuyển vị lớn vượt ngưỡng\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Mặt trượt dẻo phát triển hoàn toàn lên mặt đất\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Áp lực tăng nhẹ trở lại do khối trượt bị nới lỏng\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Điều kiện giới hạn và các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định của vòm đất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù hiện tượng vòm đất giúp giảm áp lực đáng kể, sự hình thành và duy trì vòm phụ thuộc nghiêm ngặt vào các điều kiện hình học và môi trường:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tỷ số chiều sâu lớp đất phủ trên bề rộng nhịp:\u003C\u002Fstrong> Để hình thành một vòm đất khép kín hoàn toàn (complete arching), tỷ số chiều sâu chôn đất trên bề rộng cửa sập hoặc đường hầm cần đạt một ngưỡng tối thiểu nhất định. Khi lớp đất phủ quá nông, vòm đất không thể phát triển khép kín mà các mặt trượt sẽ phá hủy xuyên suốt lên tận bề mặt đất, tạo thành hiện tượng sụt lún phễu hở và làm mất tác dụng giảm tải.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng mất vòm do tải trọng động và chu kỳ:\u003C\u002Fstrong> Các rung động cơ học từ phương tiện giao thông trên mặt đường hoặc sóng địa chấn có thể làm suy giảm ma sát giữa các hạt đất rời, dẫn đến hiện tượng phá hủy vòm tích lũy (cyclic de-arching). Khi đó, các vòm nén bị sụp đổ cục bộ và tải trọng sẽ đột ngột truyền ngược lại kết cấu bên dưới.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tác động của nước ngầm và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%99ng%20%C4%91%E1%BB%99%20%E1%BA%A9m%22%7D}}:\u003C\u002Fstrong> Sự gia tăng mực nước ngầm làm phát sinh áp lực nước lỗ rỗng, giảm ứng suất pháp hiệu dụng và triệt tiêu lực dính mao dẫn trong đất cát ẩm, làm suy yếu nghiêm trọng sức kháng cắt Mohr-Coulomb cần thiết để duy trì chân vòm.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng thực tiễn trong kỹ thuật địa kỹ thuật và công trình ngầm\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hiệu ứng vòm đất là cơ sở vật lý cho nhiều giải pháp thiết kế {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%B4ng%20tr%C3%ACnh%20ng%E1%BA%A7m%22%7D}} và gia cố nền móng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Thiết kế kết cấu vỏ hầm đào kín:\u003C\u002Fstrong> Phương pháp đào hầm NATM (New Austrian Tunnelling Method) tận dụng chính khả năng tự đỡ và tạo vòm của khối đá và đất xung quanh để giảm độ dày lớp vỏ bê tông phun tạm thời. Vỏ hầm chỉ cần tiếp nhận một phần áp lực đất đã được giảm thiểu nhờ hiệu ứng vòm.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hệ thống cống ngầm và đường ống chôn sâu:\u003C\u002Fstrong> Khi lắp đặt ống ngầm trong rãnh đào hẹp, hiện tượng vòm đất làm chuyển phần lớn tải trọng cột đất phía trên sang các thành vách đất nguyên thổ hai bên rãnh, bảo vệ đường ống khỏi nguy cơ nứt vỡ do quá tải.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nền đường đắp trên nền đất yếu có cọc:\u003C\u002Fstrong> Sự kết hợp giữa cọc bê tông và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%E1%BA%A3i%20%C4%91%E1%BB%8Ba%20k%E1%BB%B9%20thu%E1%BA%ADt%22%7D}} tạo ra hiệu ứng vòm đất truyền phần lớn tải trọng nền đắp trực tiếp xuống mũi cọc cắm vào tầng đất tốt, ngăn ngừa hiện tượng lún không đều trên mặt đường cao tốc.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tường vây hố đào sâu và neo đất:\u003C\u002Fstrong> Áp lực đất chủ động tác dụng lên tường vây phân bố theo dạng phi tuyến tính với độ cong rõ rệt do sự tạo vòm giữa các tầng thanh chống ngang hoặc đầu neo đất.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Tóm lại, hiện tượng vòm đất là một biểu hiện cơ học tự nhiên của môi trường vật liệu rời có ma sát. Việc làm chủ lý thuyết vòm đất từ mô hình giải tích 1D cổ điển của Terzaghi đến mô hình dây xích Handy và các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20h%C3%ACnh%20kh%C3%B4ng%20gian%22%7D}} hiện đại là chìa khóa để bảo đảm sự an toàn và tối ưu hóa chi phí đầu tư cho các dự án hạ tầng địa kỹ thuật ngầm.\u003C\u002Fp>","soil arching effect",[19,20,21],"hiệu ứng vòm đất","hiện tượng tạo vòm trong đất","soil arching","Hiện tượng vòm đất (tiếng Anh: soil arching effect hay arching in soils) là hiện tượng tái phân bố ứng suất trong khối đất rời hoặc đất dính, trong đó một phần tải trọng từ vùng đất có xu hướng dịch chuyển hoặc lún sụt được truyền sang các vùng đất ổn định hơn ở lân cận thông qua lực ma sát và ứng suất cắt phát sinh dọc theo các mặt trượt.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[25,32,39,46],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":10},"Terzaghi, K. (1943). Theoretical Soil Mechanics. John Wiley & Sons, New York.","Theoretical Soil Mechanics","Terzaghi","John Wiley & Sons",1943,"10.1002\u002F9780470172766",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":10},"Handy, R. L. (1985). The Arch in Soil Arching. Journal of Geotechnical Engineering, 111(3), 302-318.","The Arch in Soil Arching","Handy","Journal of Geotechnical Engineering",1985,"10.1061\u002F(ASCE)0733-9410(1985)111:3(302)",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":10},"van Eekelen, S. J. M. et al. (2012). Model experiments on piled embankments. Part I. Geotextiles and Geomembranes, 32, 69-81.","Model experiments on piled embankments. Part I","van Eekelen, Bezuijen, Lodder, van Tol","Geotextiles and Geomembranes",2012,"10.1016\u002Fj.geotexmem.2011.11.002",{"citationText":47,"title":48,"authors":49,"source":50,"year":51,"doi":52,"url":10},"Iglesia, G. R., Einstein, H. H., & Whitman, R. V. (2014). Investigation of Soil Arching with Centrifuge Tests. Journal of Geotechnical and Geoenvironmental Engineering, 140(2), 04013005.","Investigation of Soil Arching with Centrifuge Tests","Iglesia, Einstein, Whitman","Journal of Geotechnical and Geoenvironmental Engineering",2014,"10.1061\u002F(asce)gt.1943-5606.0000998",[54,57,60],{"question":55,"answer":56},"Hiện tượng vòm đất phát sinh do cơ chế cơ học căn bản nào?","Hiện tượng vòm đất phát sinh khi có sự chuyển vị tương đối giữa hai khối đất lân cận, kích hoạt lực ma sát và ứng suất cắt dọc theo mặt trượt theo định luật Mohr-Coulomb, giúp chuyển tải trọng từ khối đất lún sang khối đất đứng yên.",{"question":58,"answer":59},"Thí nghiệm cửa sập của Karl Terzaghi năm 1943 chứng minh điều gì?","Thí nghiệm cửa sập của Terzaghi chứng minh rằng khi một phần đáy đỡ chuyển vị xuống dưới một lượng nhỏ, áp lực đất thẳng đứng tác dụng lên vùng đó giảm mạnh nhờ ứng suất cắt ma sát hai bên chịu bớt tải trọng và truyền sang vùng đất cố định.",{"question":61,"answer":62},"Ứng dụng quan trọng nhất của hiệu ứng vòm đất trong xây dựng hạ tầng là gì?","Hiệu ứng vòm đất được ứng dụng cốt lõi trong phương pháp đào hầm NATM giúp giảm tải trọng hướng tâm lên vỏ hầm, và trong thiết kế nền đắp trên cọc giúp truyền phần lớn trọng lượng khối đắp trực tiếp lên mũ cọc cứng, hạn chế lún không đều.",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},[69,70,71,72,73,74,75,76,77,78],"phòng thí nghiệm","phương trình vi phân tuyến tính","phương trình vi phân","trạng thái ứng suất","nghiên cứu thực nghiệm","ứng suất biến dạng","biến động độ ẩm","công trình ngầm","vải địa kỹ thuật","mô hình không gian",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.795+00:00","2026-09-11T08:11:01.232+00:00","2026-09-11T07:25:04.250+00:00","2026-09-11T08:10:59.728+00:00",0,[88,91,94,97,100,103,106,109,112,115],{"id":89,"title":90,"term":89,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình lý thuyết","Mô hình lý thuyết là gì? Các nghiên cứu về Mô hình lý thuyết",{"id":92,"title":93,"term":92,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"toán cao cấp","Toán cao cấp là gì? Các nghiên cứu khoa học về Toán cao cấp",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"simulink","Simulink là gì? Các công bố khoa học về Simulink",{"id":98,"title":99,"term":98,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ứng suất","Ứng suất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ứng suất",{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"thực nghiệm","Thực nghiệm là gì? Các nghiên cứu khoa học Thực nghiệm",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"pls sem","PLS-SEM là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về PLS-SEM",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"simulation","Simulation là gì? Các nghiên cứu khoa học về mô phỏng",{"id":113,"title":114,"term":113,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lqr tự chỉnh","LQR tự chỉnh là gì? Các công bố khoa học về LQR tự chỉnh",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương trình chuyển động","Phương trình chuyển động là gì? Các bài nghiên cứu khoa học"]