[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A9ng%20khoang%20b%E1%BB%A5ng{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A9ng%20khoang%20b%E1%BB%A5ng":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":63,"createUser":76,"publishUser":80,"keywords":81,"keywordCount":77,"enrichTopicLink":82,"status":83,"createTime":84,"updateTime":85,"publishTime":86,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":87,"wikidataId":10,"relateTopics":88},"hội chứng khoang bụng","Hội chứng khoang bụng (ACS) là gì?","Tìm hiểu hội chứng khoang bụng (ACS): định nghĩa, cơ chế suy đa tạng, tiêu chuẩn WSACS, kỹ thuật đo qua bàng quang và chiến lược can thiệp cấp cứu.","\u003Cp>Hội chứng khoang bụng là tình trạng bệnh lý cấp cứu nguy kịch đặc trưng bởi sự gia tăng áp lực liên tục trong khoang bụng kín vượt quá ngưỡng sinh lý chịu đựng, dẫn đến giảm tưới máu cục bộ và gây suy giảm chức năng tiến triển của nhiều cơ quan đích. Bệnh lý này thường khởi phát ở các bệnh nhân nặng hồi sức tích cực sau chấn thương bụng nghiêm trọng, phẫu thuật tiêu hóa phức tạp, viêm tụy cấp mức độ nặng hoặc hồi sức truyền dịch khối lượng lớn. Bài viết này trình bày cơ chế sinh lý bệnh, các tiêu chuẩn chẩn đoán đồng thuận, phương pháp đo áp lực qua bàng quang và chiến lược can thiệp điều trị toàn diện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất sinh lý bệnh và cơ chế suy đa cơ quan\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khoang bụng là một khoang kín có giới hạn cơ học tương đối cố định: phía trên là cơ hoành, phía dưới là đáy chậu, phía sau là cột sống và khối cơ thắt lưng, phía trước và hai bên là thành bụng trước bên. Độ giãn nở của thành bụng (abdominal compliance) phản ánh khả năng thay đổi thể tích của khoang phúc mạc tương ứng với sự gia tăng áp lực nội tại. Khi thể tích các tạng, dịch tụ, máu đông hoặc khí trong khoang phúc mạc gia tăng vượt quá giới hạn đàn hồi thích ứng, áp lực ổ bụng (intra-abdominal pressure, IAP) sẽ tăng nhanh đột ngột theo đường cong áp lực - thể tích dạng hàm số mũ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hội chứng khoang bụng (abdominal compartment syndrome, ACS) tác động tiêu cực đồng thời lên nhiều hệ thống cơ quan sống còn trong cơ thể thông qua các cơ chế tương tác phức tạp:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ tim mạch:\u003C\u002Fstrong> Áp lực khoang bụng tăng cao chèn ép trực tiếp lên tĩnh mạch chủ dưới và hệ thống tĩnh mạch mạc treo, làm cản trở tuần hoàn tĩnh mạch trở về tâm nhĩ phải, từ đó làm sụt giảm tiền gánh và giảm thể tích tống máu. Đồng thời, cơ hoành bị đẩy lên cao làm gia tăng áp lực trong lồng ngực, chèn ép trực tiếp tâm thất và làm tăng hậu gánh thất trái, khiến cung lượng tim suy giảm nghiêm trọng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ hô hấp:\u003C\u002Fstrong> Vòm hoành bị đẩy lồi lên phía lồng ngực làm giảm thể tích phổi hữu dụng, giảm độ giãn nở của hệ hô hấp và xẹp các phế nang ở đáy phổi. Tình trạng này làm rối loạn tỷ lệ thông khí - tưới máu, dẫn đến giảm oxy máu động mạch khó hồi phục và ứ trệ khí carbonic. Áp lực đỉnh đường thở tăng vọt đòi hỏi phải cài đặt áp lực thở máy cao hơn, vô hình trung làm gia tăng nguy cơ chấn thương thể tích và chấn thương áp lực cho nhu mô phổi.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ tiết niệu và thận:\u003C\u002Fstrong> Thận là một trong những cơ quan đích nhạy cảm nhất đối với tình trạng gia tăng áp lực ổ bụng. Áp lực khoang bụng tác động trực tiếp ép lên nhu mô thận và tĩnh mạch thận, làm tăng áp lực tĩnh mạch thận và giảm lưu lượng dòng máu vỏ thận. Hậu quả là áp lực lọc cầu thận sụt giảm nhanh chóng, kích hoạt hệ thống renin-angiotensin-aldosterone gây co mạch thứ phát, dẫn đến thiểu niệu và suy thận cấp tiến triển.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ tiêu hóa và gan mật:\u003C\u002Fstrong> Giảm lưu lượng tuần hoàn vi mạch tạng làm thiếu máu cục bộ niêm mạc ruột, suy giảm hàng rào bảo vệ biểu mô ống tiêu hóa, thúc đẩy hiện tượng chuyển vị vi khuẩn và độc tố vào tuần hoàn chung. Lưu lượng máu qua động mạch gan và tĩnh mạch cửa cũng suy giảm đáng kể, làm rối loạn chức năng chuyển hóa và giảm độ thanh thải độc chất của tế bào gan.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ thần kinh trung ương:\u003C\u002Fstrong> Áp lực trong lồng ngực tăng cao cản trở dòng máu tĩnh mạch cảnh trở về tim, làm gia tăng áp lực nội sọ và đe dọa trực tiếp đến áp lực tưới máu não ở các bệnh nhân có chấn thương sọ não kết hợp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ đồng thuận quốc tế\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trước đây, các thuật ngữ liên quan đến áp lực ổ bụng chưa được thống nhất chặt chẽ, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong chẩn đoán và xử trí lâm sàng. Nhằm chuẩn hóa các khái niệm, Hội Khoang bụng Thế giới (The Abdominal Compartment Society, tiền thân là World Society of the Abdominal Compartment Syndrome, WSACS) đã công bố và cập nhật các hướng dẫn đồng thuận quốc tế dựa trên y học thực chứng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo hướng dẫn đồng thuận của Kirkpatrick và cs. (2013), áp lực ổ bụng bình thường ở người lớn dao động từ 0 đến 5 mmHg, còn ở bệnh nhân hồi sức dao động từ 5 đến 7 mmHg do ảnh hưởng của dịch truyền và phản ứng viêm toàn thể. Khi áp lực tăng vượt khỏi giới hạn bình thường, bệnh lý được phân chia thành hai trạng thái riêng biệt:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tăng áp lực ổ bụng (Intra-abdominal hypertension, IAH):\u003C\u002Fstrong> Được Malbrain và cs. (2006) định nghĩa là tình trạng áp lực ổ bụng tăng bệnh lý kéo dài hoặc lặp lại từ 12 mmHg trở lên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hội chứng khoang bụng:\u003C\u002Fstrong> Được Kirkpatrick và cs. (2013) xác định khi áp lực ổ bụng duy trì liên tục trên 20 mmHg kèm theo suy mới xuất hiện của một hoặc nhiều cơ quan đích.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Về phân độ tăng áp lực ổ bụng, theo hướng dẫn của Malbrain và cs. (2006), tăng áp lực ổ bụng được phân thành các phân độ trong đó Độ I từ 12 đến 15 mmHg và Độ II từ 16 đến 20 mmHg. Khi tình trạng tăng áp lực tiến triển nghiêm trọng hơn, tăng áp lực ổ bụng mức độ nặng gồm Độ III từ 21 đến 25 mmHg và Độ IV trên 25 mmHg. Việc phân chia giai đoạn này cung cấp cơ sở định lượng để bác sĩ lâm sàng lựa chọn mức độ can thiệp từ hồi sức nội khoa bảo tồn đến phẫu thuật mở bụng giải áp cấp cứu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khái niệm áp lực tưới máu ổ bụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tương tự như áp lực tưới máu não trong chuyên khoa hồi sức thần kinh, áp lực tưới máu ổ bụng (abdominal perfusion pressure, APP) được xem là chỉ số nhạy bén và có giá trị dự lượng tiên lượng sống còn tốt hơn so với chỉ số áp lực ổ bụng đơn lẻ. Theo các khuyến cáo của Cheatham và cs. (2007), áp lực tưới máu ổ bụng được tính bằng huyết áp động mạch trung bình trừ áp lực ổ bụng, với ngưỡng mục tiêu duy trì tối thiểu là 60 mmHg:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">APP = MAP - IAP\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Trong công thức trên, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">APP\u003C\u002Fscript> là áp lực tưới máu ổ bụng tính bằng đơn vị mmHg, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">MAP\u003C\u002Fscript> là huyết áp động mạch trung bình của bệnh nhân và ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">IAP\u003C\u002Fscript> là áp lực trong khoang ổ bụng đo tại thời điểm khảo sát. Việc duy trì chỉ số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">APP\u003C\u002Fscript> trên ngưỡng tối thiểu đảm bảo dòng máu vi tuần hoàn đầy đủ đến các tạng trong phúc mạc, đặc biệt là thận và ruột.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Quy trình kỹ thuật đo áp lực ổ bụng gián tiếp qua bàng quang\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đo áp lực trực tiếp thông qua kim chọc khoang phúc mạc hoặc dẫn lưu ổ bụng mang tính xâm lấn cao và tiềm ẩn nguy cơ thủng tạng. Vì vậy, đo áp lực gián tiếp qua bàng quang thông qua ống thông tiểu Foley được đồng thuận quốc tế công nhận là phương pháp tiêu chuẩn vàng nhờ tính an toàn, dễ lặp lại và chi phí thấp.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nguyên lý của phương pháp dựa trên đặc tính thành bàng quang mềm mại và hoạt động như một màng áp lực phản ánh trung thực áp lực chất lỏng trong toàn bộ khoang phúc mạc khi thể tích dịch trong lòng bàng quang ở mức vừa đủ. Quy trình kỹ thuật chuẩn bao gồm các bước kiểm soát nghiêm ngặt:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n\u003Cli>Đặt người bệnh ở tư thế nằm ngửa hoàn toàn, đầu bằng, thả lỏng tối đa các khối cơ thành bụng. Nếu người bệnh đang thở máy, cần đảm bảo đồng thì hô hấp và hạn chế tối đa các cơn co giật hoặc gồng cơ bụng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Nối ống thông tiểu với một hệ thống đo áp lực dịch kín vô trùng thông qua khóa ba chạc. Dẫn lưu triệt để toàn bộ lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang ra túi chứa.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Bơm một lượng dịch muối sinh lý vào lòng bàng quang. Theo hướng dẫn đồng thuận của Kirkpatrick và cs. (2013), thể tích dịch bơm vào bàng quang trong quy trình đo áp lực ổ bụng gián tiếp được khuyến cáo tối đa là 25 ml nước muối sinh lý vô trùng. Thể tích bơm quá mức có thể làm căng giãn cơ bàng quang quá mức và tạo ra giá trị đo cao giả tạo.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Đưa cảm biến áp lực hoặc điểm mốc số không của thước đo áp lực về ngang mức đường nách giữa tại vị trí mào chậu của bệnh nhân.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Đọc và ghi nhận chỉ số áp lực trên màn hình theo dõi ở thời điểm cuối thì thở ra bình thường, khi cử động cơ hoành ít tác động nhất đến áp lực ổ bụng. Đơn vị đo chuẩn là mmHg.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\n\u003Ch2>Phân loại nguyên nhân gây hội chứng khoang bụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dựa trên căn nguyên khởi phát và đặc điểm diễn biến bệnh học, hội chứng khoang bụng được phân loại thành ba nhóm lâm sàng chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hội chứng khoang bụng nguyên phát:\u003C\u002Fstrong> Phát sinh từ các tổn thương thực thể bệnh lý bắt nguồn trực tiếp từ bên trong vùng bụng hoặc vùng chậu. Điển hình gồm chấn thương bụng kín hoặc vết thương thấu bụng gây chảy máu lớn trong phúc mạc, vỡ phình động mạch chủ bụng, viêm phúc mạc do thủng tạng rỗng, tắc ruột cơ học và nhồi máu mạc treo ruột. Trong nhóm này, can thiệp ngoại khoa sớm thường là chỉ định bắt buộc.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hội chứng khoang bụng thứ phát:\u003C\u002Fstrong> Bắt nguồn từ các bệnh lý nguyên phát ngoài khoang bụng nhưng gây ra phù nề tạng và tích tụ dịch lan tỏa trong phúc mạc. Nguyên nhân phổ biến nhất là hồi sức bù dịch tinh thể quá mức ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng nặng, bỏng diện rộng hoặc sau phẫu thuật hồi sức tuần hoàn ngoài cơ thể. Hiện tượng rò rỉ mao mạch toàn thân làm ruột và mạc treo ứ nước nghiêm trọng, dẫn đến tăng áp lực thứ phát mà không có tổn thương ngoại khoa ban đầu tại bụng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hội chứng khoang bụng tái phát:\u003C\u002Fstrong> Tình trạng tăng áp lực tái xuất hiện trở lại sau khi người bệnh đã được can thiệp điều trị phẫu thuật mở bụng giải áp hoặc sau khi đóng bụng thì hai.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bảng phân độ tăng áp lực ổ bụng và định hướng xử trí\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Phân độ lâm sàng đóng vai trò kim chỉ nam trong việc xây dựng bậc thang điều trị thích ứng với mức độ nặng của bệnh nhân:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Phân độ lâm sàng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Áp lực ổ bụng (mmHg)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Tác động sinh lý bệnh chủ yếu\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Định hướng can thiệp y khoa\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Bình thường\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>0 đến 5 mmHg\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tuần hoàn và tưới máu tạng tối ưu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Theo dõi lâm sàng thông thường\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tăng áp lực Độ I\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>12 đến 15 mmHg\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Suy giảm nhẹ lưu lượng vi mạch mạc treo\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tối ưu hóa thể tích dịch, giảm chướng bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tăng áp lực Độ II\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>16 đến 20 mmHg\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bắt đầu giảm tưới máu thận và lưu lượng tim\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đặt ống thông dạ dày, giãn cơ, dùng an thần\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tăng áp lực Độ III\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>21 đến 25 mmHg\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thiểu niệu, giảm độ giãn nở phổi nghiêm trọng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lọc máu rút dịch, chuẩn bị phẫu thuật giải áp\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tăng áp lực Độ IV\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trên 25 mmHg\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Suy đa cơ quan cấp, vô niệu, tụt huyết áp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phẫu thuật mở bụng giải áp khẩn cấp\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Chiến lược can thiệp điều trị toàn diện\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nguyên tắc điều trị hội chứng khoang bụng là thực hiện can thiệp theo bậc thang tiếp cận từ bảo tồn nội khoa đến phẫu thuật giải áp ngoại khoa, song song với việc loại bỏ căn nguyên gốc rễ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Các biện pháp can thiệp nội khoa không xâm lấn\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo tổng quan chiến lược của De Laet, Malbrain, De Waele (2020), quản lý hồi sức dịch tối ưu nhằm tránh quá tải dịch và can thiệp giải áp là các chiến lược điều trị cốt lõi trong xử trí tăng áp lực ổ bụng và hội chứng khoang bụng. Các trụ cột nội khoa chính bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Làm giảm thể tích các tạng rỗng trong ống tiêu hóa:\u003C\u002Fstrong> Đặt ống thông mũi - dạ dày hoặc ống thông đại tràng để hút liên tục dẫn lưu dịch và hơi ứ đọng; sử dụng thuốc hỗ trợ vận động đường tiêu hóa khi không có chống chỉ định tắc ruột cơ học.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giải áp các ổ tụ dịch khoang phúc mạc:\u003C\u002Fstrong> Chọc hút hoặc đặt ống dẫn lưu qua da dưới hướng dẫn của siêu âm để tháo bớt các ổ tụ dịch cổ trướng, máu đọng hoặc ổ áp xe trong khoang bụng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cải thiện độ giãn nở của thành bụng:\u003C\u002Fstrong> Sử dụng thuốc an thần sâu kết hợp với thuốc phong bế thần kinh cơ (thuốc giãn cơ) ngắn hạn để triệt tiêu các cơn gồng cứng cơ thành bụng; điều chỉnh tư thế người bệnh nằm đầu bằng thích hợp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tối ưu hóa quản lý hồi sức dịch:\u003C\u002Fstrong> Tránh truyền dịch tinh thể ồ ạt quá mức; áp dụng các biện pháp hồi sức dịch hướng đích; cân nhắc sử dụng dung dịch keo hoặc dung dịch ưu trương; sử dụng thuốc lợi tiểu hoặc liệu pháp thay thế thận liên tục để rút bớt thể tích dịch thừa khi huyết động cho phép.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>2. Can thiệp phẫu thuật mở bụng giải áp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Khi các biện pháp nội khoa thất bại và áp lực ổ bụng duy trì liên tục trên 20 mmHg kèm theo dấu hiệu suy tạng mới tiến triển, phẫu thuật mở bụng giải áp (decompressive laparotomy) là biện pháp cứu mạng duy nhất. Đường mổ giữa bụng rộng rãi cho phép các tạng phù nề thoát ra ngoài tự do, giải phóng lập tức sự chèn ép lên mạch máu và phục hồi tưới máu cho các cơ quan.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sau khi mở bụng giải áp, ổ bụng không được đóng kín mà phải áp dụng kỹ thuật đóng bụng tạm thời (temporary abdominal closure) kết hợp hút áp lực âm (vacuum-assisted closure). Kỹ thuật này giúp bảo vệ các quai ruột, ngăn ngừa nhiễm khuẩn chéo, liên tục hút sạch dịch thẩm xuất và tạo điều kiện thuận lợi để phẫu thuật viên đóng bụng thì hai khi tình trạng phù nề mô đã thuyên giảm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, nhận thức về hội chứng khoang bụng và kỹ thuật theo dõi áp lực ổ bụng đã có những bước tiến vượt bậc trong những năm qua, trở thành quy trình chuyên môn thường quy tại các trung tâm hồi sức cấp cứu và phẫu thuật ngoại khoa của các bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và địa phương.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đối tượng có nguy cơ cao hàng đầu thường gặp tại các khoa hồi sức tích cực Việt Nam là bệnh nhân viêm tụy cấp thể nặng hoại tử. Trong bệnh cảnh viêm tụy cấp, phản ứng viêm hệ thống bùng phát kết hợp với truyền lượng dịch lớn trong giai đoạn hồi sức ban đầu khiến ruột bị phù nề dữ dội và tụ dịch ổ bụng lan tỏa. Tại Việt Nam, theo dõi áp lực ổ bụng qua bàng quang được ứng dụng trên các bệnh nhân viêm tụy cấp mức độ nặng nhằm nhận diện sớm tình trạng tăng áp lực ổ bụng và ngăn ngừa suy đa tạng theo báo cáo của Trần Văn Thảnh, Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Hữu Việt Anh (2024). Việc triển khai theo dõi định kỳ áp lực ổ bụng giúp các thầy thuốc lâm sàng điều chỉnh kịp thời tốc độ bù dịch, chủ động chọc hút dịch viêm sớm và chỉ định phẫu thuật đúng thời điểm, góp phần cải thiện đáng kể tỷ lệ sống còn của bệnh nhân nặng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ranh giới kỹ thuật, cạm bẫy lâm sàng và tiên lượng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù kỹ thuật đo áp lực qua bàng quang được coi là tiêu chuẩn vàng, việc phiên giải kết quả trên lâm sàng đòi hỏi phải thận trọng nhận diện các yếu tố gây nhiễu:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Các yếu tố gây sai số cao giả tạo:\u003C\u002Fstrong> Bàng quang bị chèn ép từ ngoài do khối máu tụ vùng tiểu khung, người bệnh ho, gồng cơ bụng hoặc thở chống máy, hoặc kỹ thuật viên bơm thể tích dịch vượt mức khuyến cáo vào bàng quang đều làm sai lệch kết quả.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cạm bẫy từ hội chứng khoang bụng thứ phát:\u003C\u002Fstrong> Bác sĩ hồi sức thường dễ bỏ sót hội chứng khoang bụng ở những bệnh nhân không có phẫu thuật bụng ban đầu, ví dụ như bệnh nhân bỏng nặng hoặc sốc tim, do thành bụng bên ngoài trông mềm nhưng áp lực sâu bên trong đã vượt ngưỡng an toàn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Rủi ro từ phẫu thuật mở bụng giải áp:\u003C\u002Fstrong> Mặc dù là can thiệp cứu mạng, mở bụng hở kéo theo nguy cơ mất dịch và protein ồ ạt, rò rỉ dịch tiêu hóa tạo lỗ rò khí quyển - ruột (enteroatmospheric fistula), và để lại di chứng thoát vị thành bụng lớn sau hồi phục.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Tiên lượng của hội chứng khoang bụng phụ thuộc chủ yếu vào thời điểm phát hiện bệnh. Nếu tình trạng tăng áp lực được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời trước khi suy đa cơ quan không thể hồi phục xuất hiện, chức năng các tạng có khả năng phục hồi hoàn toàn. Ngược lại, việc chậm trễ can thiệp khi hội chứng khoang bụng toàn phát thường dẫn đến suy đa cơ quan cấp tính và tỷ lệ tử vong rất cao trong hồi sức ngoại khoa.\u003C\u002Fp>\n","abdominal compartment syndrome",[19,20,21],"hội chứng chèn ép khoang bụng","hội chứng tăng áp lực khoang bụng","ACS","Hội chứng khoang bụng là tình trạng bệnh lý cấp cứu nguy kịch đặc trưng bởi sự gia tăng áp lực liên tục trong khoang bụng kín vượt quá ngưỡng sinh lý chịu đựng, dẫn đến giảm tưới máu cục bộ và gây suy giảm chức năng tiến triển của nhiều cơ quan đích. Bệnh lý này được xác định khi áp lực ổ bụng duy trì liên tục trên 20 mmHg kèm theo xuất hiện suy chức năng cơ quan mới.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[25,33,40,47,55],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Kirkpatrick, A. W., Roberts, D. J., De Waele, J., Jaeschke, R., Malbrain, M. L., De Keulenaer, B., Duchesne, J., Bjorck, M., Leppaniemi, A., Ejike, J. C., Sugrue, M., Cheatham, M., Ivatury, R., Ball, C. G., Reintam Blaser, A., Regli, A., Balogh, Z. J., D'Amours, S., Debergh, D., Kaplan, M., Kimball, E., & Olvera, C. (2013). Intra-abdominal hypertension and the abdominal compartment syndrome: updated consensus definitions and clinical practice guidelines from the World Society of the Abdominal Compartment Syndrome. Intensive Care Medicine, 39(7), 1190-1206.","Intra-abdominal hypertension and the abdominal compartment syndrome: updated consensus definitions and clinical practice guidelines from the World Society of the Abdominal Compartment Syndrome","Kirkpatrick, A. W., Roberts, D. J., De Waele, J., Jaeschke, R., Malbrain, M. L., De Keulenaer, B., Duchesne, J., Bjorck, M., Leppaniemi, A., Ejike, J. C., Sugrue, M., Cheatham, M., Ivatury, R., Ball, C. G., Reintam Blaser, A., Regli, A., Balogh, Z. J., D'Amours, S., Debergh, D., Kaplan, M., Kimball, E., & Olvera, C.","Intensive Care Medicine",2013,"10.1007\u002Fs00134-013-2906-z","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002Fs00134-013-2906-z",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":29,"year":37,"doi":38,"url":39},"Malbrain, M. L., Cheatham, M. L., Kirkpatrick, A. W., Sugrue, M., Parr, M., De Waele, J., Balogh, Z., Leppäniemi, A., Olvera, C., Ivatury, R., D'Amours, S., Wendon, J., Hillman, K., Johansson, K., Kolkman, K., & Wilmer, A. (2006). Results from the International Conference of Experts on Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome. I. Definitions. Intensive Care Medicine, 32(11), 1722-1732.","Results from the International Conference of Experts on Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome. I. Definitions","Malbrain, M. L., Cheatham, M. L., Kirkpatrick, A. W., Sugrue, M., Parr, M., De Waele, J., Balogh, Z., Leppäniemi, A., Olvera, C., Ivatury, R., D'Amours, S., Wendon, J., Hillman, K., Johansson, K., Kolkman, K., & Wilmer, A.",2006,"10.1007\u002Fs00134-006-0349-5","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002Fs00134-006-0349-5",{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":29,"year":44,"doi":45,"url":46},"Cheatham, M. L., Malbrain, M. L., Kirkpatrick, A. W., Sugrue, M., Parr, M., De Waele, J., Balogh, Z., Leppäniemi, A., Olvera, C., Ivatury, R., D'Amours, S., Wendon, J., Hillman, K., & Wilmer, A. (2007). Results from the International Conference of Experts on Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome. II. Recommendations. Intensive Care Medicine, 33(6), 951-962.","Results from the International Conference of Experts on Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome. II. Recommendations","Cheatham, M. L., Malbrain, M. L., Kirkpatrick, A. W., Sugrue, M., Parr, M., De Waele, J., Balogh, Z., Leppäniemi, A., Olvera, C., Ivatury, R., D'Amours, S., Wendon, J., Hillman, K., & Wilmer, A.",2007,"10.1007\u002Fs00134-007-0592-4","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002Fs00134-007-0592-4",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":54},"De Laet, I. E., Malbrain, M. L., & De Waele, J. J. (2020). A Clinician's Guide to Management of Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome in Critically Ill Patients. Critical Care, 24(1), 97.","A Clinician’s Guide to Management of Intra-abdominal Hypertension and Abdominal Compartment Syndrome in Critically Ill Patients","De Laet, I. E., Malbrain, M. L., & De Waele, J. J.","Critical Care",2020,"10.1186\u002Fs13054-020-2782-1","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1186\u002Fs13054-020-2782-1",{"citationText":56,"title":57,"authors":58,"source":59,"year":60,"doi":61,"url":62},"Trần Văn Thảnh, Nguyễn Đức Phúc, & Nguyễn Hữu Việt Anh (2024). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm tụy cấp nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam, 544(3), 12048.","ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY CẤP NẶNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN","Trần Văn Thảnh, Nguyễn Đức Phúc, & Nguyễn Hữu Việt Anh","Tạp chí Y học Việt Nam",2024,"10.51298\u002Fvmj.v544i3.12048","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.51298\u002Fvmj.v544i3.12048",[64,67,70,73],{"question":65,"answer":66},"Hội chứng khoang bụng là gì và được chẩn đoán theo tiêu chuẩn nào?","Hội chứng khoang bụng là tình trạng áp lực trong khoang phúc mạc tăng cao liên tục trên 20 mmHg kèm theo suy mới xuất hiện của một hoặc nhiều cơ quan sống còn như thận, hô hấp hoặc tuần hoàn. Bệnh thường gặp ở các bệnh nhân nặng sau chấn thương bụng, đại phẫu tiêu hóa hoặc viêm tụy cấp thể nặng.",{"question":68,"answer":69},"Phương pháp đo áp lực ổ bụng gián tiếp qua bàng quang được thực hiện như thế nào?","Người bệnh được đặt nằm ngửa đầu bằng và đặt ống thông tiểu Foley vô trùng kết nối với hệ thống đo áp lực. Sau khi dẫn lưu hết nước tiểu, kỹ thuật viên bơm tối đa 25 ml nước muối sinh lý vào bàng quang và đọc chỉ số áp lực ở thời điểm cuối thì thở ra bình thường với điểm mốc số không ngang đường nách giữa mào chậu.",{"question":71,"answer":72},"Áp lực tưới máu ổ bụng có ý nghĩa gì trong hồi sức?","Áp lực tưới máu ổ bụng được tính bằng huyết áp động mạch trung bình trừ đi áp lực trong khoang bụng. Chỉ số này phản ánh lưu lượng tưới máu thực tế đến các tạng trong ổ bụng, với đích hồi sức tối thiểu khuyến cáo là duy trì từ 60 mmHg trở lên nhằm ngăn ngừa tổn thương thận và thiếu máu cục bộ ruột.",{"question":74,"answer":75},"Khi nào bệnh nhân cần phẫu thuật mở bụng giải áp?","Phẫu thuật mở bụng giải áp được chỉ định khẩn cấp khi người bệnh biểu hiện hội chứng khoang bụng rõ rệt với áp lực ổ bụng liên tục trên 20 mmHg và suy tạng tiến triển trơ với các biện pháp hồi sức nội khoa. Phẫu thuật giúp giải phóng chèn ép cơ học tức thì lên hệ mạch máu và phục hồi tưới máu cho các cơ quan.",{"id":77,"researcherId":10,"name":78,"imageUrl":79},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":77,"researcherId":10,"name":78,"imageUrl":79},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.565+00:00","2026-09-28T02:45:46.267+00:00","2026-09-28T02:45:46.240+00:00",0,[89,98,103,109,114,120,125,131,137,142],{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":92,"definition":93,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":101,"definition":102,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":104,"title":105,"term":106,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":115,"title":116,"term":117,"englishTitle":118,"definition":119,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":126,"title":127,"term":128,"englishTitle":129,"definition":130,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":132,"title":133,"term":134,"englishTitle":135,"definition":136,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":138,"title":139,"term":138,"englishTitle":140,"definition":141,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":143,"title":144,"term":143,"englishTitle":145,"definition":146,"discipline":23,"disciplineCode":94,"disciplineLabel":95,"disciplineColor":96,"disciplineIcon":97},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]