[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_h%E1%BB%87%20d%E1%BA%ABn%20truy%E1%BB%81n%20thu%E1%BB%91c%20th%C3%B4ng%20minh{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_h%E1%BB%87%20d%E1%BA%ABn%20truy%E1%BB%81n%20thu%E1%BB%91c%20th%C3%B4ng%20minh":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":80,"createUser":93,"publishUser":97,"keywords":98,"keywordCount":94,"enrichTopicLink":99,"status":100,"createTime":101,"updateTime":102,"publishTime":103,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":104,"wikidataId":10,"relateTopics":105},"hệ dẫn truyền thuốc thông minh","Hệ dẫn truyền thuốc thông minh (smart drug delivery) là gì?","Hệ dẫn truyền thuốc thông minh là các hệ mang dược chất nano có khả năng cảm ứng kích thích sinh hóa hoặc vật lý để giải phóng thuốc có kiểm soát tại mô đích.","\u003Cp>Hệ dẫn truyền thuốc thông minh (smart drug delivery systems) là các hệ thống vận chuyển dược chất tiên tiến có khả năng cảm ứng và đáp ứng chọn lọc với các tín hiệu sinh học nội sinh hoặc tác nhân vật lý ngoại sinh nhằm giải phóng thuốc có kiểm soát tại vị trí mô bệnh theo thời gian tối ưu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý hoạt động và cơ chế hướng đích sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong thực hành dược trị liệu kinh điển, các phân tử dược chất tự do sau khi hấp thu vào vòng tuần hoàn chung thường phân bố rộng khắp cơ thể một cách thụ động và thiếu tính chọn lọc. Tình trạng phân bố lan tỏa này làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi nghiêm trọng tại các cơ quan lành, đồng thời làm suy giảm hiệu lực trị liệu do thuốc nhanh chóng bị chuyển hóa sinh học hoặc đào thải sớm. Hệ dẫn truyền thuốc thông minh được phát triển nhằm khắc phục triệt để các rào cản dược lý trên thông qua việc đóng gói hoạt chất vào các cấu trúc chất mang kích thước nano, giúp kiểm soát chặt chẽ quá trình lưu thông, thẩm thấu và phóng thích dược chất.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Năm 2000, Maeda và cộng sự đã tổng kết cơ chế hiệu ứng tăng tính thấm và giữ chân (enhanced permeability and retention effect) trong việc phân phối đại phân tử và hạt keo trị liệu tới khối u rắn. Theo lý thuyết này, quá trình tân tạo mạch máu hỗn loạn tại mô khối u tạo ra các khe hở nội mô thành mạch có kích thước dị thường, cho phép các cấu trúc hạt kích thước nano thẩm thấu chọn lọc từ lòng mạch vào khoang kẽ của khối u. Cùng với sự khiếm khuyết nghiêm trọng của mạng lưới tuần hoàn bạch huyết cục bộ, các hạt mang thuốc sau khi thoát mạch sẽ tích tụ bền vững tại ổ bệnh thay vì bị đào thải nhanh chóng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh cơ chế hướng đích thụ động nhờ kích thước, các hệ dẫn truyền tiên tiến còn được biến đổi bề mặt bằng các phối tử có ái lực chọn lọc cao đối với các thụ thể bề mặt màng tế bào đích. Việc gắn các đoạn kháng thể đơn dòng, aptamer hoặc chuỗi peptide sinh học giúp tiểu phân nhận diện chính xác tế bào bệnh và kích hoạt con đường nội bào hóa thông qua cơ chế nhập bào qua thụ thể, giúp nồng độ thuốc tự do được giải phóng tập trung tối đa tại các bào quan đích.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các nền tảng chất mang và cấu trúc hạt nano\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Năm 2007, Peer và cộng sự đã công bố tổng quan toàn diện về các nền tảng chất mang nano trong điều trị ung thư và bệnh mạn tính, bao gồm liposome, micelle polyme, hạt nano lipid và các hạt nano liên hợp đại phân tử. Mỗi nền tảng cấu trúc sở hữu những đặc tính hóa lý chuyên biệt phục vụ cho các mục đích phân phối khác nhau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Liposome và hạt nano lipid:\u003C\u002Fstrong> Cấu trúc túi hình cầu tạo bởi một hoặc nhiều lớp màng kép phospholipid mô phỏng màng sinh học, cho phép bao bọc đồng thời cả các phân tử ưa nước trong khoang lõi và các hợp chất sơ nước bên trong lớp màng lipid. Bề mặt liposome thường được gắn các chuỗi polymer ưa nước để tạo lớp che chắn tĩnh điện, kéo dài thời gian lưu hành trong tuần hoàn.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Micelle polyme tự lắp ghép:\u003C\u002Fstrong> Được hình thành từ các chất đồng trùng hợp lưỡng thân bao gồm các khối ưa nước và sơ nước. Khi đạt nồng độ micelle tới hạn, các chuỗi sơ nước liên kết chặt chẽ tạo thành vùng lõi giam giữ các dược chất kém tan, trong khi lớp vỏ ưa nước bên ngoài duy trì độ phân tán keo bền vững trong môi trường nước sinh lý.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Dendrimer và polyme nhánh cao:\u003C\u002Fstrong> Các đại phân tử tổng hợp có cấu trúc nhánh phân kỳ hình cây đối xứng cao, cung cấp mật độ nhóm chức năng bề mặt dày đặc để liên kết đồng hóa trị với phân tử thuốc, phối tử dẫn đường và các gốc cảm ứng môi trường.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hydrogel đáp ứng kích thích:\u003C\u002Fstrong> Mạng lưới polyme ba chiều có khả năng trương nở và ngậm lượng lớn nước sinh lý mà không bị hòa tan. Mạng lưới hydrogel có khả năng co giãn hoặc chuyển đổi trạng thái sol-gel thuận nghịch khi tiếp xúc với các biến đổi vi mô của môi trường xung quanh.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Phân loại hệ dẫn truyền thuốc thông minh theo cơ chế kích hoạt\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Năm 2013, Mura, Nicolas và Couvreur đã hệ thống hóa các hệ mang thuốc đáp ứng kích thích thành hai nhóm cơ chế chính gồm kích thích sinh hóa nội sinh và kích thích vật lý ngoại sinh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Hệ đáp ứng kích thích nội sinh\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Hệ thống nội sinh vận dụng trực tiếp các sai khác về thông số lý hóa và sinh hóa tại vị trí mô bệnh so với môi trường sinh lý tiêu chuẩn:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hệ đáp ứng pH vi môi trường:\u003C\u002Fstrong> Theo tổng quan của Mura và cộng sự năm 2013, độ pH tại vi môi trường ngoại bào của khối u thường duy trì mức axit nhẹ trong khoảng từ 6.5 đến 6.8 so với độ pH sinh lý 7.4 của máu và mô lành. Sự chênh lệch này xuất phát từ hiện tượng chuyển hóa glucose kỵ khí tạo axit lactic và quá trình tưới máu không hoàn chỉnh. Hơn nữa, bên trong các bào quan nội bào như endosome và lysosome, độ pH giảm sâu hơn xuống mức từ 4.5 đến 5.5. Các hệ mang thuốc sử dụng polyme chứa các nhóm chức có thể ion hóa hoặc các liên kết hóa học nhạy cảm với axit sẽ bị proton hóa hoặc thủy phân chọn lọc, gây mất ổn định vỏ bọc và giải phóng hoạt chất ngay tại tế bào chất.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hệ đáp ứng thế khử oxy hóa:\u003C\u002Fstrong> Năm 2014, Torchilin đã tổng kết các hệ thống hạt nano đa chức năng nhạy cảm với kích thích sinh học. Nồng độ chất khử nội bào glutathione GSH trong bào tương tế bào đạt từ 2 đến 10 mM cao gấp từ 100 đến 1000 lần so với nồng độ chỉ từ 2 đến 20 micromol\u002Flít trong huyết tương. Các chất mang tích hợp liên kết disulfide nhạy khử giữ được độ ổn định tương đối trong dòng máu và bị phân cắt có chọn lọc khi xâm nhập vào tế bào chất giàu chất khử, kích hoạt giải phóng dược chất tới đích tác dụng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hệ đáp ứng enzym bệnh lý:\u003C\u002Fstrong> Tại các mô viêm và khối u ác tính, nhiều enzym phân hủy như matrix metalloproteinase, cathepsin hoặc hyaluronidase biểu hiện ở mức độ rất cao. Việc tích hợp các chuỗi peptide đặc hiệu làm cầu nối trong chất mang cho phép enzym bệnh lý cắt đứt vỏ bọc ngoài, giải phóng thuốc có mục tiêu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Hệ đáp ứng kích thích ngoại sinh\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Năm 2020, Mitchell và cộng sự đã phân tích kỹ thuật chế tạo hạt nano chính xác cho dẫn truyền thuốc và liệu pháp gen, nhấn mạnh vai trò của các nguồn kích thích từ bên ngoài nhằm đạt được khả năng điều khiển không gian và thời gian một cách chủ động:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Bức xạ quang học:\u003C\u002Fstrong> Kích thích ngoại sinh sử dụng từ trường ngoài, sóng siêu âm, ánh sáng cận hồng ngoại với bước sóng từ 700 nm đến 1000 nm hoặc nhiệt độ để kích hoạt giải phóng thuốc theo không gian và thời gian. Nguồn bức xạ vùng cận hồng ngoại có độ đâm xuyên mô sinh học vượt trội và mức độ hấp thụ tán xạ bởi hemoglobin tối thiểu, cho phép cung cấp năng lượng kích hoạt các phản ứng phân hủy quang hoặc quang nhiệt cục bộ.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Sóng siêu âm tập trung:\u003C\u002Fstrong> Sóng âm tần số thích hợp gây ra hiệu ứng tạo hốc bọt khí vi mô và dao động áp suất cơ học, làm xáo trộn tính toàn vẹn của màng chất mang polyme hoặc liposome, qua đó kích hoạt phóng thích thuốc tức thời tại vùng hội tụ sóng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Từ trường xoay chiều:\u003C\u002Fstrong> Các hạt nano oxit sắt từ tính được bao bọc bên trong chất mang sinh học sẽ sinh nhiệt cục bộ khi đặt trong từ trường biến thiên, làm mềm mạng lưới polyme nhạy nhiệt để mở các kênh khuếch tán giải phóng hoạt chất.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Động học giải phóng dược chất từ hệ chất mang polyme\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nghiên cứu định lượng quá trình giải phóng thuốc từ các hệ dẫn truyền dạng chất mang polyme đòi hỏi việc thiết lập các mô hình toán học giải tích chuẩn xác để làm sáng tỏ cơ chế vận chuyển chất tan. Năm 1983, Korsmeyer và Peppas đã thiết lập mô hình bán thực nghiệm mô tả động học giải phóng chất tan từ mạng lưới polyme với điều kiện tỷ lệ giải phóng không vượt quá 60% tổng lượng giải phóng tích lũy:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\frac{M_t}{M_\\infty} = k t^n\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong phương trình trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">M_t\u003C\u002Fscript> là lượng dược chất đã giải phóng tại mốc thời gian khảo sát \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">t\u003C\u002Fscript>, trong khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">M_\\infty\u003C\u002Fscript> biểu diễn tổng lượng dược chất tích lũy được giải phóng khi thời gian tiến đến vô cùng tại trạng thái cân bằng giải phóng. Tham số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k\u003C\u002Fscript> là hằng số tốc độ động học phụ thuộc vào cấu trúc hình học và mạng lưới của chất mang polyme, và đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> là số mũ khuếch tán chỉ thị cho cơ chế dịch chuyển của phân tử chất tan.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Điều kiện áp dụng cốt lõi của phương trình mũ Korsmeyer-Peppas là biểu thức chỉ có giá trị mô tả hợp lệ đối với giai đoạn giải phóng ban đầu khi tỷ lệ giải phóng tích lũy thỏa mãn điều kiện:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\frac{M_t}{M_\\infty} \\le 0.60\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi giá trị số mũ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> đạt mức tham số tương ứng với hình học tấm mỏng phẳng, quá trình tuân theo cơ chế khuếch tán Fick thuần túy, trong đó tốc độ khuếch tán của dược chất nhỏ hơn rất nhiều so với tốc độ hồi phục cấu trúc mạng lưới polyme. Ngược lại, khi số mũ nằm trong khoảng chuyển tiếp, quá trình giải phóng phản ánh sự kết hợp phức tạp giữa khuếch tán Fick và hiện tượng trương nở giãn mạng lưới của chất mang polyme.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Rào cản sinh học, kích thước tiểu phân và thách thức lâm sàng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Năm 2007, Peer và cộng sự đã công bố tổng quan về các nền tảng chất mang nano trong điều trị ung thư, chỉ ra rằng kích thước hạt nano từ 10 nm đến 200 nm là khoảng tối ưu để kéo dài thời gian lưu thông trong tuần hoàn máu và thâm nhập qua khe hở nội mô mạch máu khối u. Các tiểu phân có đường kính dưới 10 nm bị thanh thải nhanh chóng qua cầu thận trong khi các tiểu phân lớn hơn 200 nm dễ bị bắt giữ bởi hệ lưới nội mô tại gan và lách.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh yếu tố kích thước hạt, số phận sinh học của hệ dẫn truyền thuốc thông minh trong cơ thể chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tương tác miễn dịch phức tạp. Ngay sau khi tiêm vào hệ tuần hoàn, các protein huyết tương nhanh chóng hấp phụ lên bề mặt chất mang tạo thành lớp vỏ bọc sinh học protein corona. Lớp vỏ này làm thay đổi diện mạo bề mặt, che lấp các phối tử dẫn đường chủ động và thúc đẩy sự nhận diện của các đại thực bào, dẫn đến việc chất mang bị thu dọn sớm trước khi kịp đến mô đích.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Chính những rào cản sinh học này đã tạo ra khoảng cách lớn giữa các thử nghiệm tiền lâm sàng trên mô hình động vật và ứng dụng thực tế trên người bệnh. Năm 2016, Wilhelm và cộng sự đã thực hiện phân tích tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu tiền lâm sàng và phát hiện chỉ có trung vị 0.7% liều hạt nano tiêm vào cơ thể đến được khối u rắn. Phân tích của Wilhelm và cộng sự trong 10 năm y văn cho thấy sự cần thiết phải phát triển các hệ dẫn truyền thông minh hơn nhằm vượt qua các rào cản sinh học phức tạp trong cơ thể sống, đặc biệt là áp lực dịch kẽ tăng cao trong khối u và tính không đồng nhất về cấu trúc vi mạch máu giữa các cá thể người bệnh.\u003C\u002Fp>\n","smart drug delivery systems",[19,20,21],"hệ thống dẫn truyền thuốc thông minh","hệ mang thuốc thông minh","hệ phân phối thuốc thông minh","Hệ dẫn truyền thuốc thông minh là hệ thống vận chuyển dược chất sử dụng các chất mang cấu trúc nano hoặc polyme có khả năng đáp ứng chọn lọc với kích thích sinh lý bệnh nội sinh hoặc tín hiệu vật lý ngoại sinh nhằm giải phóng thuốc có kiểm soát theo không gian và thời gian tối ưu.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[25,33,41,49,56,64,72],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Mura, S., Nicolas, J., & Couvreur, P. (2013). Stimuli-responsive nanocarriers for drug delivery. Nature Materials, 12(11), 991-1003.","Stimuli-responsive nanocarriers for drug delivery","Simona Mura, Julien Nicolas, Patrick Couvreur","Nature Materials",2013,"10.1038\u002Fnmat3776","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnmat3776",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":40},"Torchilin, V. P. (2014). Multifunctional, stimuli-sensitive nanoparticulate systems for drug delivery. Nature Reviews Drug Discovery, 13(11), 813-827.","Multifunctional, stimuli-sensitive nanoparticulate systems for drug delivery","Vladimir P. Torchilin","Nature Reviews Drug Discovery",2014,"10.1038\u002Fnrd4333","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnrd4333",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":45,"year":46,"doi":47,"url":48},"Peer, D., Karp, J. M., Hong, S., Farokhzad, O. C., Margalit, R., & Langer, R. (2007). Nanocarriers as an emerging platform for cancer therapy. Nature Nanotechnology, 2(12), 751-760.","Nanocarriers as an emerging platform for cancer therapy","Dan Peer, Jeffrey M. Karp, Seungpyo Hong, Omid C. Farokhzad, Rimona Margalit, Robert Langer","Nature Nanotechnology",2007,"10.1038\u002Fnnano.2007.387","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnnano.2007.387",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":37,"year":53,"doi":54,"url":55},"Mitchell, M. J., Billingsley, M. M., Haley, R. M., Wechsler, M. E., Peppas, N. A., & Langer, R. (2020). Engineering precision nanoparticles for drug delivery. Nature Reviews Drug Discovery, 20(2), 101-124.","Engineering precision nanoparticles for drug delivery","Michael J. Mitchell, Margaret M. Billingsley, Rebecca M. Haley, Miriam E. Wechsler, Nicholas A. Peppas, Robert Langer",2020,"10.1038\u002Fs41573-020-0090-8","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fs41573-020-0090-8",{"citationText":57,"title":58,"authors":59,"source":60,"year":61,"doi":62,"url":63},"Maeda, H., Wu, J., Sawa, T., Matsumura, Y., & Hori, K. (2000). Tumor vascular permeability and the EPR effect in macromolecular therapeutics: a review. Journal of Controlled Release, 65(1-2), 271-284.","Tumor vascular permeability and the EPR effect in macromolecular therapeutics: a review","Hiroshi Maeda, Jun Wu, Tomohiro Sawa, Yasuhiro Matsumura, Kazuo Hori","Journal of Controlled Release",2000,"10.1016\u002Fs0168-3659(99)00248-5","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fs0168-3659(99)00248-5",{"citationText":65,"title":66,"authors":67,"source":68,"year":69,"doi":70,"url":71},"Wilhelm, S., Tavares, A. J., Dai, Q., Ohta, S., Audet, J., Dvorak, H. F., & Chan, W. C. W. (2016). Analysis of nanoparticle delivery to tumours. Nature Reviews Materials, 1(5), 16014.","Analysis of nanoparticle delivery to tumours","Stefan Wilhelm, Anthony J. Tavares, Qin Dai, Seiichi Ohta, Julie Audet, Harold F. Dvorak, Warren C. W. Chan","Nature Reviews Materials",2016,"10.1038\u002Fnatrevmats.2016.14","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnatrevmats.2016.14",{"citationText":73,"title":74,"authors":75,"source":76,"year":77,"doi":78,"url":79},"Korsmeyer, R. W., Gurny, R., Doelker, E., Buri, P., & Peppas, N. A. (1983). Mechanisms of solute release from porous hydrophilic polymers. International Journal of Pharmaceutics, 15(1), 25-35.","Mechanisms of solute release from porous hydrophilic polymers","Richard W. Korsmeyer, Robert Gurny, Eric Doelker, Peter Buri, Nicholas A. Peppas","International Journal of Pharmaceutics",1983,"10.1016\u002F0378-5173(83)90064-9","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0378-5173(83)90064-9",[81,84,87,90],{"question":82,"answer":83},"Hệ dẫn truyền thuốc thông minh khác gì so với thuốc truyền thống?","Thuốc truyền thống phân tán tự do toàn thân dễ gây độc cho mô lành, trong khi hệ dẫn truyền thuốc thông minh bao bọc dược chất trong chất mang nano giúp thuốc chỉ giải phóng khi gặp đúng kích thích đặc hiệu tại mô bệnh.",{"question":85,"answer":86},"Những loại kích thích sinh học nào thường được ứng dụng để kích hoạt nhả thuốc?","Các kích thích nội sinh phổ biến bao gồm sự thay đổi độ pH có tính axit tại mô u và lysosome, nồng độ chất khử glutathione tăng cao trong tế bào chất, hoặc sự biểu hiện quá mức của các enzym bệnh lý đặc hiệu.",{"question":88,"answer":89},"Hiệu ứng tăng tính thấm và giữ chân (EPR) đóng vai trò gì trong dẫn truyền thuốc?","Hiệu ứng EPR là hiện tượng các hạt nano thẩm thấu chọn lọc qua khe hở nội mô của mạng lưới mạch máu tân tạo tại khối u và tích tụ tại đó nhờ sự suy giảm của hệ dẫn lưu bạch huyết cục bộ.",{"question":91,"answer":92},"Thách thức lớn nhất hiện nay trong việc đưa hạt nano dẫn truyền thuốc vào lâm sàng là gì?","Rào cản lớn nhất là hiện tượng thanh thải của hệ lưới nội mô, sự bao phủ của protein huyết tương tạo lớp vỏ corona và tỷ lệ hạt nano thực tế thâm nhập thành công vào khối u rắn ở người còn hạn chế.",{"id":94,"researcherId":10,"name":95,"imageUrl":96},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":94,"researcherId":10,"name":95,"imageUrl":96},[13],false,"PUBLISHED","2026-11-05T09:25:52.823+00:00","2026-11-05T09:45:10.574+00:00","2026-11-05T09:45:10.522+00:00",0,[106,115,120,126,131,137,142,148,154,159],{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":109,"definition":110,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":118,"definition":119,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":121,"title":122,"term":123,"englishTitle":124,"definition":125,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":129,"definition":130,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":132,"title":133,"term":134,"englishTitle":135,"definition":136,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":138,"title":139,"term":138,"englishTitle":140,"definition":141,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":143,"title":144,"term":145,"englishTitle":146,"definition":147,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":149,"title":150,"term":151,"englishTitle":152,"definition":153,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":155,"title":156,"term":155,"englishTitle":157,"definition":158,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":160,"title":161,"term":160,"englishTitle":162,"definition":163,"discipline":23,"disciplineCode":111,"disciplineLabel":112,"disciplineColor":113,"disciplineIcon":114},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]