[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_h%C3%A0m%20d%C6%B0%E1%BB%9Bi{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_hàm dưới":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":10,"synonyms":10,"definition":10,"discipline":10,"references":10,"faqs":10,"createUser":17,"publishUser":21,"keywords":25,"keywordCount":18,"enrichTopicLink":26,"status":27,"createTime":28,"updateTime":29,"publishTime":30,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":31,"relateTopics":32},"hàm dưới","Hàm dưới là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","Hàm dưới là một hàm số được xác định trên cùng miền với một hàm khác và luôn có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng hàm đó tại mọi điểm trong miền xác định. Trong toán học, hàm dưới thường được hiểu như một cận dưới hàm, dùng để mô tả quan hệ thứ tự và kiểm soát hành vi giá trị của hàm gốc. ","\u003Cdiv>\u003Ch2>Giới thiệu chung về hàm dưới trong toán học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong toán học, thuật ngữ \u003Cstrong>hàm dưới\u003C\u002Fstrong> được sử dụng để mô tả một hàm số nằm “bên dưới” một hàm khác theo nghĩa so sánh giá trị trên cùng miền xác định. Khái niệm này không phải là một đối tượng riêng lẻ, mà là một cách nhìn quan hệ giữa các hàm, đặc biệt hữu ích khi phân tích hành vi, giới hạn và tính ổn định của hệ thống toán học.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hàm dưới xuất hiện xuyên suốt trong nhiều nhánh toán học như giải tích thực, giải tích hàm, tối ưu hóa, xác suất và kinh tế học toán. Trong mỗi bối cảnh, thuật ngữ có thể được gọi bằng các tên khác nhau như \u003Cem>cận dưới hàm\u003C\u002Fem>, \u003Cem>minorant\u003C\u002Fem> hoặc \u003Cem>lower bounding function\u003C\u002Fem>, nhưng đều dựa trên cùng một ý tưởng cốt lõi là so sánh thứ tự giữa các giá trị hàm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Về mặt trực quan, nếu một hàm được xem là mô tả “hành vi tối đa” hoặc “giá trị thực tế” của một đại lượng, thì hàm dưới đóng vai trò như một giới hạn an toàn, đảm bảo đại lượng đó không giảm xuống dưới một mức nhất định. Điều này đặc biệt quan trọng trong các bài toán cần kiểm soát sai số, rủi ro hoặc hội tụ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Hàm dưới giúp thiết lập giới hạn dưới cho giá trị hàm\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Là công cụ phân tích phổ biến trong toán học ứng dụng\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Đóng vai trò trung gian trong nhiều định lý hội tụ và tối ưu\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bối cảnh và động cơ hình thành khái niệm\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khái niệm hàm dưới xuất hiện tự nhiên từ nhu cầu so sánh và đánh giá các hàm số trong giải tích cổ điển. Khi nghiên cứu dãy hàm hoặc tích phân, các nhà toán học sớm nhận ra rằng việc kiểm soát hành vi “từ phía dưới” là cần thiết để tránh các trường hợp suy biến hoặc phân kỳ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong giải tích thực, các định lý hội tụ như định lý hội tụ đơn điệu hay định lý hội tụ bị chặn đều dựa trên giả thiết tồn tại một cận dưới hoặc cận trên phù hợp. Hàm dưới, trong trường hợp này, đóng vai trò đảm bảo rằng giá trị hàm không đi xuống vô hạn, từ đó cho phép áp dụng các công cụ tích phân và giới hạn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ở các lĩnh vực hiện đại hơn như tối ưu hóa và kinh tế học toán, hàm dưới được sử dụng để xây dựng các mô hình xấp xỉ. Việc thay thế một hàm phức tạp bằng một hàm dưới đơn giản hơn giúp giảm độ khó tính toán, đồng thời vẫn giữ được thông tin quan trọng về giới hạn của nghiệm.\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Ctbody>\u003Ctr>\n    \u003Cth>Lĩnh vực\u003C\u002Fth>\n    \u003Cth>Vai trò của hàm dưới\u003C\u002Fth>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Giải tích\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Kiểm soát hội tụ và tích phân\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Tối ưu hóa\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Xây dựng hàm xấp xỉ và cận nghiệm\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Kinh tế học\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Đánh giá chi phí và lợi ích tối thiểu\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Định nghĩa hàm dưới\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một định nghĩa hình thức của hàm dưới được xây dựng dựa trên quan hệ thứ tự giữa các hàm số. Cho hai hàm \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript> cùng xác định trên một tập \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">D\u003C\u002Fscript>. Hàm \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f\u003C\u002Fscript> được gọi là hàm dưới của \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript> trên \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">D\u003C\u002Fscript> nếu với mọi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">x \\in D\u003C\u002Fscript> ta có:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f(x) \\le g(x)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Điều kiện này phải đúng tại mọi điểm trong miền xác định, trừ khi có quy ước khác. Khi đó, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f\u003C\u002Fscript> được xem là một cận dưới hàm của \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript>, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript> là một cận trên của \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Định nghĩa trên không yêu cầu các tính chất như liên tục hay khả vi, tuy nhiên trong nhiều bài toán cụ thể, người ta thường xét hàm dưới thỏa mãn thêm các điều kiện bổ sung để thuận tiện cho phân tích và tính toán.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Hai hàm phải cùng miền xác định\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Bất đẳng thức đúng tại mọi điểm trong miền\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Có thể bổ sung các điều kiện về liên tục hoặc lồi\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Phân loại và các dạng hàm dưới phổ biến\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hàm dưới có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào phạm vi và mục đích sử dụng. Một cách phân loại cơ bản là dựa trên phạm vi mà bất đẳng thức giữa hai hàm được thỏa mãn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hàm dưới toàn cục là hàm thỏa mãn điều kiện \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f(x) \\le g(x)\u003C\u002Fscript> với mọi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">x\u003C\u002Fscript> trong miền xác định. Ngược lại, hàm dưới cục bộ chỉ thỏa mãn bất đẳng thức này trong một miền con, thường là lân cận của một điểm quan tâm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Một phân loại khác dựa trên mức độ “chặt” của bất đẳng thức. Hàm dưới chặt là hàm thỏa mãn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">f(x) \u003C g(x)\u003C\u002Fscript> tại ít nhất một điểm, điều này thường mang ý nghĩa quan trọng trong tối ưu hóa và phân tích cực trị.\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Ctbody>\u003Ctr>\n    \u003Cth>Loại hàm dưới\u003C\u002Fth>\n    \u003Cth>Đặc điểm\u003C\u002Fth>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Toàn cục\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Áp dụng trên toàn miền xác định\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Cục bộ\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Chỉ áp dụng trong miền con\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Chặt\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Bất đẳng thức nghiêm tại một số điểm\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\n\u003Ch2>Vai trò của hàm dưới trong giải tích\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong giải tích thực và giải tích hàm, hàm dưới đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu giới hạn, hội tụ và tích phân của các hàm số. Khi làm việc với dãy hàm hoặc chuỗi hàm, việc tồn tại một hàm dưới thích hợp giúp kiểm soát hành vi của các giá trị hàm và tránh các trường hợp phân kỳ về phía âm vô hạn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Một ví dụ tiêu biểu là trong lý thuyết tích phân Lebesgue, nhiều định lý cơ bản yêu cầu giả thiết về sự tồn tại của một hàm dưới khả tích. Điều này đảm bảo rằng các tích phân không rơi vào tình trạng không xác định và cho phép trao đổi giới hạn với tích phân trong những điều kiện nhất định.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hàm dưới cũng được sử dụng để xây dựng các đánh giá xấp xỉ cho hàm số phức tạp. Bằng cách thay thế một hàm bằng hàm dưới đơn giản hơn nhưng vẫn kiểm soát được giá trị, nhà toán học có thể phân tích các tính chất quan trọng mà không cần xử lý trực tiếp hàm gốc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Hỗ trợ chứng minh các định lý hội tụ\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Đảm bảo tính xác định của tích phân\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Giúp xây dựng các đánh giá và xấp xỉ hàm\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Hàm dưới trong tối ưu hóa và lý thuyết lồi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong tối ưu hóa, hàm dưới thường xuất hiện dưới dạng hàm đánh giá (minorant) của hàm mục tiêu. Ý tưởng cơ bản là xây dựng một hàm đơn giản hơn, dễ xử lý hơn nhưng luôn nằm dưới hàm cần tối ưu, từ đó cung cấp thông tin về cận dưới của giá trị tối ưu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong lý thuyết lồi, hàm dưới lồi có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc thay thế một hàm không lồi bằng một hàm dưới lồi cho phép áp dụng các công cụ mạnh của tối ưu lồi, chẳng hạn như điều kiện tối ưu Karush–Kuhn–Tucker hoặc các thuật toán gradient.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các thuật toán hiện đại như phương pháp cận dưới, phương pháp xấp xỉ liên tiếp hoặc các kỹ thuật phân rã bài toán đều dựa trên việc xây dựng và cải tiến các hàm dưới theo từng bước lặp.\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Ctbody>\u003Ctr>\n    \u003Cth>Bối cảnh\u003C\u002Fth>\n    \u003Cth>Vai trò của hàm dưới\u003C\u002Fth>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Tối ưu toàn cục\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Xác định cận dưới của nghiệm tối ưu\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Tối ưu lồi\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Đơn giản hóa bài toán và đảm bảo hội tụ\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n  \u003Ctr>\n    \u003Ctd>Thuật toán lặp\u003C\u002Ftd>\n    \u003Ctd>Xây dựng nghiệm xấp xỉ từng bước\u003C\u002Ftd>\n  \u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Liên hệ với các khái niệm toán học khác\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hàm dưới có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều khái niệm nền tảng khác trong toán học. Một trong những khái niệm gần gũi nhất là cận dưới (lower bound), thường được dùng để mô tả một giá trị số nằm dưới tập giá trị của hàm hoặc dãy số.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong hình học tính toán và giải tích lồi, khái niệm bao dưới (lower envelope) được xây dựng từ tập các hàm dưới, tạo thành một hàm mới biểu diễn giá trị nhỏ nhất tại mỗi điểm. Khái niệm này được ứng dụng rộng rãi trong bài toán tối ưu và xử lý dữ liệu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hàm dưới cũng liên hệ với khái niệm hàm bao lồi (convex envelope), là hàm lồi lớn nhất nằm dưới một hàm cho trước. Đây là công cụ quan trọng trong việc xấp xỉ và phân tích các hàm không lồi.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Cận dưới của tập giá trị\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Bao dưới của họ hàm\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Hàm bao lồi trong tối ưu hóa\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng trong các lĩnh vực liên quan\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Ứng dụng của hàm dưới không chỉ giới hạn trong toán học thuần túy mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Trong kinh tế học toán, hàm dưới được dùng để mô tả chi phí tối thiểu, mức lợi ích đảm bảo hoặc các ràng buộc ngân sách.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong khoa học dữ liệu và học máy, các hàm mất mát thường được xấp xỉ hoặc chặn dưới để đảm bảo tính ổn định của thuật toán huấn luyện. Việc xác định cận dưới giúp kiểm soát quá trình tối ưu và tránh hiện tượng suy biến.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong kỹ thuật và vật lý, hàm dưới được sử dụng để mô hình hóa các giới hạn an toàn, năng lượng tối thiểu hoặc điều kiện ổn định của hệ thống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hạn chế và lưu ý khi sử dụng hàm dưới\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù là một công cụ hữu ích, hàm dưới cũng có những hạn chế nhất định. Một hàm dưới quá thô có thể dẫn đến các đánh giá không chính xác hoặc làm mất đi các đặc điểm quan trọng của hàm gốc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong tối ưu hóa, việc lựa chọn hàm dưới không phù hợp có thể khiến thuật toán hội tụ chậm hoặc rơi vào nghiệm không mong muốn. Do đó, việc cân nhắc giữa độ đơn giản và độ sát của hàm dưới là vấn đề then chốt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ngoài ra, không phải lúc nào cũng tồn tại một hàm dưới thỏa mãn đồng thời các tính chất mong muốn như liên tục, lồi và dễ tính toán. Điều này đòi hỏi sự đánh đổi và kinh nghiệm trong quá trình mô hình hóa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tài liệu tham khảo\u003C\u002Fh2>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\n    H. L. Royden, \u003Cem>Real Analysis\u003C\u002Fem>, 3rd Edition, Prentice Hall, 1988.\n  \u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\n    R. T. Rockafellar, \u003Cem>Convex Analysis\u003C\u002Fem>, Princeton University Press, 1970.\n  \u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\n    Wolfram Research, “Lower Bound”,\n    \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fmathworld.wolfram.com\u002FLowerBound.html\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">\n      https:\u002F\u002Fmathworld.wolfram.com\u002FLowerBound.html\n    \u003C\u002Fa>\n  \u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\n    S. Boyd and L. Vandenberghe, \u003Cem>Convex Optimization\u003C\u002Fem>, Cambridge University Press, 2004,\n    \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fweb.stanford.edu\u002F~boyd\u002Fcvxbook\u002F\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">\n      https:\u002F\u002Fweb.stanford.edu\u002F~boyd\u002Fcvxbook\u002F\n    \u003C\u002Fa>\n  \u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003C\u002Fdiv>",{"id":18,"researcherId":10,"name":19,"imageUrl":20},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":22,"researcherId":10,"name":23,"imageUrl":24},2889,"Lê Xuân Niên","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLuyWIkhyP2W5E59cKwN7ciI2nbjMGUpXO9rVQquC826ujzkqhU=s96-c",[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:28:17.934+00:00","2026-01-28T11:38:19.539+00:00","2026-01-28T11:38:19.537+00:00",77,[33,44,50,56,67,73,79,85,91,102],{"id":34,"title":35,"term":36,"englishTitle":37,"definition":38,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"răng cối nhỏ","Răng cối nhỏ là gì? Giải phẫu mặt nhai, múi chịu múi hướng dẫn và chỉ định nhổ chỉnh nha","Răng cối nhỏ","premolars","Răng cối nhỏ (răng tiền cối) là nhóm răng vĩnh viễn nằm giữa răng nanh và răng cối lớn trên cung hàm, đảm nhận chức năng trung gian vừa xé vừa nghiền nát thức ăn, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong điều trị chỉnh nha và duy trì thẩm mỹ khuôn mặt.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":45,"title":46,"term":47,"englishTitle":48,"definition":49,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"protein gp120","Protein gp120: Cấu trúc phân tử và cơ chế xâm nhập tế bào","Protein gp120","HIV-1 envelope glycoprotein gp120","Protein gp120 là glycoprotein bề mặt thuộc gai vỏ của virus HIV-1, có vai trò nhận diện và gắn kết chuyên biệt với thụ thể CD4 và đồng thụ thể chemokine trên tế bào vật chủ để mở đầu quá trình dung hợp màng.",{"id":51,"title":52,"term":53,"englishTitle":54,"definition":55,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"glioblastoma multiforme","Glioblastoma multiforme là gì? Các bài nghiên cứu khoa học","Glioblastoma multiforme","Glioblastoma multiforme \u002F GBM","Glioblastoma multiforme (GBM hay u nguyên bào đệm đa hình độ IV theo WHO) là khối u não nguyên phát ác tính phổ biến nhất và ác tính nhất ở người trưởng thành, đặc trưng bởi sự xâm lấn nhu mô não lan tỏa, tăng sinh mạch máu dị thường, hoại tử trung tâm và tiên lượng sống còn rất dè dặt.",{"id":57,"title":58,"term":59,"englishTitle":60,"definition":61,"discipline":62,"disciplineCode":63,"disciplineLabel":64,"disciplineColor":65,"disciplineIcon":66},"nghiên cứu xã hội","Nghiên cứu xã hội là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Nghiên cứu xã hội","Social research","Nghiên cứu xã hội (social research) là quá trình điều tra khoa học có hệ thống sử dụng các phương pháp định tính, định lượng hoặc phối hợp nhằm thu thập, phân tích dữ liệu về hành vi, mối quan hệ, thiết chế và hiện tượng xã hội để xây dựng và kiểm định các lý thuyết xã hội học.","SOCIAL_SCIENCES","social-sciences","Khoa học xã hội","#E08600","users",{"id":68,"title":69,"term":70,"englishTitle":71,"definition":72,"discipline":62,"disciplineCode":63,"disciplineLabel":64,"disciplineColor":65,"disciplineIcon":66},"vùng tây nguyên","Vùng tây nguyên là gì? Các công bố khoa học về Vùng tây nguyên","Vùng Tây Nguyên","Central Highlands of Vietnam \u002F Tay Nguyen","Vùng Tây Nguyên là tiểu vùng địa lý sinh thái và kinh tế chiến lược ở miền Trung Việt Nam, gồm năm tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) đặc trưng bởi các cao nguyên đất đỏ bazan màu mỡ, vị thế đầu nguồn của các hệ thống sông lớn và sự đa dạng văn hóa của các dân tộc thiểu số bản địa.",{"id":74,"title":75,"term":76,"englishTitle":77,"definition":78,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"thân chung động mạch vành trái","Thân chung động mạch vành trái là gì? Các công bố khoa học về Thân chung động mạch vành trái","Thân chung động mạch vành trái","Left main coronary artery \u002F LMCA","Thân chung động mạch vành trái (Left Main Coronary Artery - LMCA) là nhánh mạch máu xuất phát từ xoang Valsalva trái của gốc động mạch chủ, chia thành động mạch liên thất trước (LAD) và động mạch mũ (LCx), cung cấp khoảng 75–85% lượng máu nuôi dưỡng thất trái của tim.",{"id":80,"title":81,"term":82,"englishTitle":83,"definition":84,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"virus varicella zoster","Virus varicella zoster là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan","Virus varicella zoster","Varicella-zoster virus \u002F VZV","Virus varicella zoster (VZV hay Human alphaherpesvirus 3) là virus chứa ADN chuỗi đôi thuộc họ Herpesviridae, là căn nguyên gây bệnh thủy đậu (varicella) ở nhiễm trùng tiên phát và bệnh zona thần kinh (herpes zoster) khi virus tiềm tàng trong hạch thần kinh cảm giác tái hoạt động.",{"id":86,"title":87,"term":88,"englishTitle":89,"definition":90,"discipline":39,"disciplineCode":40,"disciplineLabel":41,"disciplineColor":42,"disciplineIcon":43},"cộng hưởng từ khuếch tán sức căng","Cộng hưởng từ khuếch tán sức căng là gì? Các công bố khoa học về Cộng hưởng từ khuếch tán sức căng","Cộng hưởng từ khuếch tán sức căng","Diffusion tensor imaging \u002F DTI","Cộng hưởng từ khuếch tán sức căng (DTI) là kỹ thuật hình ảnh cộng hưởng từ tiên tiến đo lường chuyển động Brown đẳng hướng và dị hướng của các phân tử nước trong không gian 3 chiều, cho phép tái tạo bản đồ đường dẫn truyền sợi trục chất trắng của não bộ (tractography).",{"id":92,"title":93,"term":94,"englishTitle":95,"definition":96,"discipline":97,"disciplineCode":98,"disciplineLabel":99,"disciplineColor":100,"disciplineIcon":101},"củng cố","Củng cố là gì? Các nghiên cứu khoa học về Củng cố","Củng cố","Reinforcement \u002F Reinforcement learning","Củng cố (reinforcement) là nguyên lý tâm lý học hành vi và trí tuệ nhân tạo, chỉ quá trình trong đó một kích thích hoặc phần thưởng xuất hiện sau một hành vi sẽ làm gia tăng xác suất hành vi đó được lặp lại trong tương lai.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":103,"title":104,"term":105,"englishTitle":106,"definition":107,"discipline":97,"disciplineCode":98,"disciplineLabel":99,"disciplineColor":100,"disciplineIcon":101},"nhà toán học","Nhà toán học là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","Nhà toán học","Mathematician","Nhà toán học (mathematician) là chuyên gia nghiên cứu sâu rộng về toán học, chuyên tâm phát triển các lý thuyết trừu tượng, khám phá các quy luật và cấu trúc định lượng, hoặc ứng dụng các công cụ toán học để giải quyết các bài toán khoa học, công nghệ và xã hội."]