[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_giao%20ti%E1%BA%BFp%20s%E1%BB%91{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_giao tiếp số":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":65,"createUser":75,"publishUser":79,"keywords":80,"keywordCount":91,"enrichTopicLink":92,"status":93,"createTime":94,"updateTime":95,"publishTime":96,"linkEnrichedTime":97,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":98,"relateTopics":99},"giao tiếp số","Giao tiếp số: Lý thuyết thông tin và kiến trúc","Tổng quan về giao tiếp số: định lý Shannon-Hartley, tiêu chuẩn Nyquist, các kỹ thuật điều chế sóng mang và mã hóa kênh sửa sai hiện đại.","\u003Cp>Giao tiếp số (trong kỹ thuật viễn thông và lý thuyết thông tin thường gọi là truyền thông số hoặc thông tin số - digital communications) là quá trình truyền tải thông tin dưới dạng các chuỗi ký hiệu rời rạc (nhị phân hoặc đa mức) từ nguồn phát đến một hoặc nhiều điểm đích thông qua các kênh truyền dẫn vật lý. Khác biệt cốt lõi với giao tiếp tương tự truyền thống vốn dễ bị suy hao và tích tụ tạp âm không thể phục hồi theo cự ly truyền dẫn, giao tiếp số sở hữu khả năng tái tạo tín hiệu nguyên vẹn tại các trạm lặp trung gian nhờ kỹ thuật tái định hình xung và các thuật toán mã hóa sửa sai kênh truyền. Bài viết này trình bày toàn diện về cơ sở lý thuyết thông tin, giới hạn dung lượng kênh truyền, các kỹ thuật điều chế sóng mang, sơ đồ chuỗi xử lý tín hiệu và các kiến trúc mã hóa hiện đại trong mạng truyền thông băng rộng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nền tảng lý thuyết thông tin và các giới hạn dung lượng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự hình thành của giao tiếp số hiện đại gắn liền với hai công trình toán học kinh điển trong thế kỷ hai mươi. Năm 1928, nhà khoa học Harry Nyquist đã công bố nghiên cứu về lý thuyết truyền dẫn tín hiệu qua đường dây điện báo (Nyquist, 1928). Trong công trình này, Nyquist chứng minh tiêu chuẩn truyền xung không giao thoa liên ký tự: trên một kênh truyền lý tưởng có băng thông giới hạn, tốc độ truyền xung ký hiệu tối đa để đầu thu có thể lấy mẫu độc lập mà không bị chồng lấn ký hiệu bị chặn bởi giới hạn tốc độ Nyquist.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đến năm 1948, Claude Shannon đã đặt nền móng toán học vững chắc cho toàn bộ ngành {{topic|%7B%22topic%22%3A%22l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%20th%C3%B4ng%20tin%22%7D}} thông qua công trình kinh điển xuất bản trên tạp chí kỹ thuật của hệ thống Bell (Shannon, 1948). Shannon đã đưa ra định nghĩa định lượng về lượng thông tin thông qua khái niệm entropy và chứng minh định lý dung lượng kênh truyền cho kênh chịu tác động của tạp âm Gaussian trắng cộng. Định lý Shannon-Hartley xác định tốc độ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22truy%E1%BB%81n%20th%C3%B4ng%22%7D}} tin tối đa mà tại đó xác suất lỗi bit có thể tiến dần về không khi độ dài khối mã hóa tiến tới vô cùng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">C = B \\log_2\\left(1 + \\frac{S}{N}\\right)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong phương trình này, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C\u003C\u002Fscript> là dung lượng kênh truyền tính bằng bit trên giây, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">B\u003C\u002Fscript> là băng thông khả dụng của kênh truyền tính bằng hertz, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">S\u003C\u002Fscript> biểu diễn công suất trung bình của tín hiệu phát và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">N\u003C\u002Fscript> là công suất của tạp âm can nhiễu trong dải thông. Định lý này khẳng định rằng để tăng dung lượng truyền tải, hệ thống viễn thông có thể mở rộng băng thông hoặc cải thiện tỷ số tín hiệu trên nhiễu. Tuy nhiên, việc tăng công suất phát mang lại hiệu quả tiệm cận suy giảm do hàm logarit, thúc đẩy các kỹ sư viễn thông tập trung vào việc thiết kế các kỹ thuật điều chế và mã hóa hiệu quả cao hơn để khai thác tối đa băng thông sẵn có.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chuỗi xử lý tín hiệu trong kiến trúc giao tiếp số\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một hệ thống giao tiếp số tiêu chuẩn được xây dựng từ một chuỗi các khối chức năng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22x%E1%BB%AD%20l%C3%BD%20th%C3%B4ng%20tin%22%7D}} nối tiếp nhau từ đầu phát đến đầu thu:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mã hóa nguồn:\u003C\u002Fstrong> Chuyển đổi tín hiệu ban đầu từ dạng tương tự sang chuỗi bit nhị phân rời rạc thông qua các quá trình lấy mẫu, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%20h%C3%B3a%22%7D}} và nén dữ liệu nhằm loại bỏ tính dư thừa thông tin.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mã hóa kênh truyền:\u003C\u002Fstrong> Bổ sung các bit kiểm tra có kiểm soát vào chuỗi dữ liệu gốc nhằm cho phép đầu thu phát hiện và tự động sửa các lỗi sinh ra do tạp âm, suy hao và hiện tượng phân tán tín hiệu trên kênh truyền vật lý.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Điều chế số:\u003C\u002Fstrong> Ánh xạ các khối bit nhị phân thành các dạng sóng tương tự mang thông tin thích hợp để truyền qua môi trường dẫn sóng, cáp quang hoặc không gian vô tuyến.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đồng bộ và cân bằng kênh:\u003C\u002Fstrong> Tại đầu thu, hệ thống thực hiện đồng bộ sóng mang, đồng bộ thời gian xung ký hiệu và cân bằng đáp ứng tần số của kênh nhằm triệt tiêu hiện tượng giao thoa liên ký tự trước khi tiến hành giải điều chế và giải mã.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Khối chức năng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nhiệm vụ kỹ thuật cốt lõi\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Chỉ số hiệu năng đánh giá\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mã hóa nguồn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nén thông tin và loại bỏ độ dư thừa thống kê\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tỷ số nén và độ méo dạng tín hiệu tái tạo\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mã hóa kênh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thêm độ dư thừa bảo vệ nhằm chống lại tạp âm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tỷ lệ lỗi bit và độ lợi mã hóa\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Điều chế số\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chuyển đổi bit thành dạng sóng phù hợp phổ tần\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hiệu quả phổ và hiệu quả năng lượng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Giải mã và phát hiện\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khôi phục chuỗi bit gốc từ tín hiệu suy biến\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Độ phức tạp thuật toán và độ trễ xử lý\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Các phương pháp điều chế số hiện đại\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Môi trường truyền dẫn vật lý như sóng vô tuyến trong không gian chỉ có thể truyền tải các dạng sóng tương tự liên tục. Do đó, quá trình điều chế số đóng vai trò cầu nối chuyển đổi các bit nhị phân thành các tham số đặc trưng của sóng mang cao tần bao gồm biên độ, tần số và pha dao động.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong các sơ đồ điều chế cơ bản, thông tin được truyền tải qua sự thay đổi rời rạc của sóng mang: khóa dịch biên độ làm thay đổi mức biên độ, khóa dịch tần số làm thay đổi tần số dao động tức thời, và khóa dịch pha làm thay đổi góc pha ban đầu của sóng mang. Để nâng cao hiệu quả phổ tần trên các kênh truyền có băng thông giới hạn, kỹ thuật {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%81u%20ch%E1%BA%BF%20bi%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%99%22%7D}} cầu phương kết hợp đồng thời sự biến thiên của cả biên độ và pha dao động, biểu diễn chuỗi bit dưới dạng các điểm tọa độ rời rạc trên chòm sao tín hiệu trong không gian hai chiều đồng pha và vuông pha.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22truy%E1%BB%81n%20t%C3%ADn%20hi%E1%BB%87u%22%7D}} qua các kênh đa đường có hiện tượng phân tán trễ nghiêm trọng, kỹ thuật ghép kênh phân chia theo tần số trực giao chia dải phổ băng rộng thành hàng nghìn sóng mang phụ băng hẹp trực giao với nhau. Bằng cách chèn tiền tố lặp chu kỳ giữa các khối ký hiệu với điều kiện độ dài tiền tố chu kỳ không nhỏ hơn thời gian trải trễ cực đại của kênh đa đường, kỹ thuật này chuyển đổi kênh truyền chọn lọc tần số phức tạp thành tập hợp các kênh truyền phẳng đơn giản, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng giao thoa liên ký tự và trở thành xương sống của các tiêu chuẩn truyền dẫn băng rộng hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Sự tiến hóa của mã sửa sai kênh truyền hướng tới giới hạn Shannon\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Suốt gần sáu thập kỷ sau công bố lịch sử của Claude Shannon năm 1948, việc tìm kiếm các cấu trúc mã hóa kênh cụ thể có thể tiệm cận dung lượng kênh lý thuyết với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99%20ph%E1%BB%A9c%20t%E1%BA%A1p%20t%C3%ADnh%20to%C3%A1n%22%7D}} khả thi luôn là mục tiêu trung tâm của lý thuyết thông tin. Trong bài tổng quan năm 2007, hai nhà khoa học Costello và Forney (2007) đã phân tích chặng đường lịch sử phát triển mã kênh truyền, từ các lớp mã khối {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BA%A1i%20s%E1%BB%91%20tuy%E1%BA%BFn%20t%C3%ADnh%22%7D}} ban đầu như mã Hamming, mã Bose-Chaudhuri-Hocquenghem và mã Reed-Solomon cho đến các lớp mã lặp hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bước đột phá mang tính cách mạng diễn ra với sự ra đời của mã Turbo (phát minh năm 1993 bởi Berrou, Glavieux và Thitimajshima) dựa trên nguyên lý giải mã lặp mềm qua bộ xáo trộn, cùng sự phát hiện lại mã kiểm tra chẵn lẻ mật độ thấp (LDPC) với giải mã lan truyền niềm tin trên đồ thị hai phía bipartite (Costello và Forney, 2007). Các lớp mã này cho phép hệ thống truyền dẫn hoạt động tại các tỷ số tín hiệu trên nhiễu chỉ còn cách giới hạn Shannon một phần nhỏ của decibel trên các kênh truyền tạp âm Gaussian trắng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đặc biệt, vào năm 2009, nhà khoa học Erdal Arikan đã giới thiệu phát minh mã cực (Arikan, 2009). Mã cực là lớp mã sửa sai đầu tiên trong lịch sử được chứng minh toán học chặt chẽ là đạt tới dung lượng Shannon của các kênh truyền đối xứng nhị phân không nhớ, đi kèm các thuật toán mã hóa và giải mã triệt tiêu liên tiếp có độ phức tạp tính toán thấp ở mức chuẩn tuyến tính \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">O(N \\log N)\u003C\u002Fscript>. Cơ chế phân cực kênh truyền chia tách một tập hợp các kênh truyền giống nhau thành hai nhóm kênh đối lập: một nhóm trở nên hoàn toàn không có tạp âm và nhóm còn lại trở nên hoàn toàn nhiễu, cho phép truyền tải bit thông tin thuần túy trên các kênh sạch và ghim các giá trị bit đóng băng trên các kênh nhiễu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong bài tổng quan hệ thống năm 2021, Bioglio và các cộng sự (2021) đã phân tích chi tiết quá trình hiện thực hóa và chuẩn hóa mã cực trong hệ thống viễn thông thế hệ thứ năm. Nhờ hiệu năng bảo vệ vượt trội đối với các khối mã có độ dài ngắn và trung bình, tổ chức chuẩn hóa quốc tế 3GPP đã chính thức phê duyệt mã cực làm sơ đồ mã hóa kênh truyền bắt buộc cho các kênh điều khiển vô tuyến trong tiêu chuẩn 5G New Radio, đánh dấu cột mốc chuyển hóa một thành tựu lý thuyết thông tin thuần túy thành giải pháp công nghệ công nghiệp quy mô toàn cầu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Thách thức kỹ thuật và xu hướng phát triển\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù giao tiếp số đã đạt được những thành tựu vượt bậc, các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe của các mạng truyền thông tương lai đang đặt ra những thách thức mới. Sự bùng nổ của mạng lưới vạn vật kết nối đòi hỏi các giao thức truyền dẫn phải dung hòa đồng thời giữa mật độ kết nối khổng lồ, độ trễ xử lý ở mức dưới mili giây và mức {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ti%C3%AAu%20th%E1%BB%A5%20n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} tối thiểu cho các nút cảm biến độc lập. Bên cạnh đó, xu hướng tích hợp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%C3%AD%20tu%E1%BB%87%20nh%C3%A2n%20t%E1%BA%A1o%22%7D}} vào tầng vật lý mở ra các mô hình truyền thông ngữ nghĩa mới, nơi hệ thống không chỉ tập trung truyền tải chính xác từng bit nhị phân mà còn tối ưu hóa việc truyền đạt đúng nội hàm ý nghĩa và mục đích hành động của thông điệp.\u003C\u002Fp>\n","digital communications",[19,20,21],"truyền thông số","hệ thống truyền tin số","thông tin số","Giao tiếp số (trong kỹ thuật viễn thông và lý thuyết thông tin thường gọi là truyền thông số hoặc thông tin số - digital communications) là quá trình truyền tải thông tin dưới dạng các chuỗi ký hiệu rời rạc (nhị phân hoặc đa mức) từ nguồn phát đến một hoặc nhiều điểm đích thông qua các kênh truyền dẫn vật lý.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[25,33,41,49,57],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Shannon, C. E. (1948). A Mathematical Theory of Communication. Bell System Technical Journal, 27(3), 379-423.","A Mathematical Theory of Communication","Shannon, C. E.","Bell System Technical Journal",1948,"10.1002\u002Fj.1538-7305.1948.tb01338.x","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Fj.1538-7305.1948.tb01338.x",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":40},"Nyquist, H. (1928). Certain Topics in Telegraph Transmission Theory. Transactions of the American Institute of Electrical Engineers, 47(2), 617-644.","Certain Topics in Telegraph Transmission Theory","Nyquist, H.","Transactions of the American Institute of Electrical Engineers",1928,"10.1109\u002Ft-aiee.1928.5055024","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002Ft-aiee.1928.5055024",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":45,"year":46,"doi":47,"url":48},"Costello, D. J., & Forney, G. D. (2007). Channel coding: The road to channel capacity. Proceedings of the IEEE, 95(6), 1150-1177.","Channel coding: The road to channel capacity","Costello, D. J., & Forney, G. D.","Proceedings of the IEEE",2007,"10.1109\u002Fjproc.2007.895188","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002Fjproc.2007.895188",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":53,"year":54,"doi":55,"url":56},"Arikan, E. (2009). Channel Polarization: A Method for Constructing Capacity-Achieving Codes for Symmetric Binary-Input Memoryless Channels. IEEE Transactions on Information Theory, 55(7), 3051-3073.","Channel Polarization: A Method for Constructing Capacity-Achieving Codes for Symmetric Binary-Input Memoryless Channels","Arikan, E.","IEEE Transactions on Information Theory",2009,"10.1109\u002Ftit.2009.2021379","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002Ftit.2009.2021379",{"citationText":58,"title":59,"authors":60,"source":61,"year":62,"doi":63,"url":64},"Bioglio, V., Condo, C., & Land, I. (2021). Design of Polar Codes in 5G New Radio. IEEE Communications Surveys & Tutorials, 23(1), 29-40.","Design of Polar Codes in 5G New Radio","Bioglio, V., Condo, C., & Land, I.","IEEE Communications Surveys & Tutorials",2021,"10.1109\u002Fcomst.2020.2967127","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002Fcomst.2020.2967127",[66,69,72],{"question":67,"answer":68},"Giao tiếp số có ưu thế vượt trội nào so với giao tiếp tương tự?","Giao tiếp số có khả năng chống tạp âm và can nhiễu vượt trội, cho phép tái tạo tín hiệu nguyên vẹn tại các trạm lặp trung gian nhờ kỹ thuật tái định hình xung và các thuật toán mã hóa sửa sai mà không làm tích lũy sai số theo khoảng cách.",{"question":70,"answer":71},"Định lý Shannon-Hartley có ý nghĩa gì đối với thiết kế hệ thống truyền thông?","Định lý xác định tốc độ truyền thông tin tối đa không có lỗi trên một kênh truyền có băng thông và tỷ số tín hiệu trên nhiễu nhất định, đóng vai trò là kim chỉ nam lý thuyết để các kỹ sư tối ưu hóa hiệu quả phổ tần và công suất phát.",{"question":73,"answer":74},"Mã cực (Polar codes) đóng vai trò gì trong mạng không dây hiện đại?","Mã cực là lớp mã đầu tiên được chứng minh toán học đạt đến dung lượng kênh Shannon với độ phức tạp tính toán thấp, được tổ chức 3GPP chuẩn hóa thành sơ đồ mã hóa kênh bắt buộc cho các kênh điều khiển trong tiêu chuẩn vô tuyến 5G New Radio.",{"id":76,"researcherId":10,"name":77,"imageUrl":78},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":76,"researcherId":10,"name":77,"imageUrl":78},[81,82,83,84,85,86,87,88,89,90],"lý thuyết thông tin","truyền thông","xử lý thông tin","lượng tử hóa","điều chế biên độ","truyền tín hiệu","độ phức tạp tính toán","đại số tuyến tính","tiêu thụ năng lượng","trí tuệ nhân tạo",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:09.805+00:00","2026-09-05T02:09:22.802+00:00","2026-09-05T01:37:20.255+00:00","2026-09-05T02:09:22.470+00:00",0,[100,103,106,109,119,122,125,128,131,134],{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ngữ nghĩa","Ngữ nghĩa là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ngữ nghĩa",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình lý thuyết","Mô hình lý thuyết là gì? Các nghiên cứu về Mô hình lý thuyết",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hình thái","Hình thái là gì? Các công bố khoa học về Hình thái",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":114,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"chuẩn chủ quan","Chuẩn chủ quan là gì? Cấu trúc và ứng dụng","subjective norm","Chuẩn chủ quan (subjective norm) là nhận thức của một cá nhân về áp lực và kỳ vọng xã hội từ những người hoặc nhóm tham chiếu quan trọng đối với việc họ nên hay không nên thực hiện một hành vi cụ thể.","SOCIAL_SCIENCES","social-sciences","Khoa học xã hội","#E08600","users",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chất lượng thông tin","Chất lượng thông tin là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"truyện thơ","Truyện thơ là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"autonomy","Autonomy là gì? Các công bố khoa học về Autonomy",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"năng lực số","Năng lực số là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hành vi xã hội","Hành vi xã hội là gì? Các nghiên cứu về Hành vi xã hội",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu tổng quan","Nghiên cứu tổng quan là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học"]