[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_gia%20t%E1%BA%A3i%20n%C3%A9n%20tr%C6%B0%E1%BB%9Bc{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_gia%20t%E1%BA%A3i%20n%C3%A9n%20tr%C6%B0%E1%BB%9Bc":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":61,"createUser":71,"publishUser":75,"keywords":76,"keywordCount":72,"enrichTopicLink":77,"status":78,"createTime":79,"updateTime":80,"publishTime":81,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":82,"wikidataId":10,"relateTopics":83},"gia tải nén trước","Gia tải nén trước là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Gia tải nén trước là giải pháp xử lý nền đất yếu bằng tải trọng tạm thời nhằm thúc đẩy cố kết sơ cấp, triệt tiêu độ lún dư và gia tăng cường độ kháng cắt.","\u003Cp>Gia tải nén trước là giải pháp xử lý nền đất yếu kinh điển và được ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật địa kỹ thuật công trình, đặc biệt đối với các dự án xây dựng đường bộ cao tốc, sân bay, đê kè và khu công nghiệp ven biển. Bản chất của phương pháp là chủ động đặt một tải trọng tạm thời lên bề mặt nền đất trước khi thi công kết cấu công trình chính, nhằm thúc đẩy quá trình cố kết sơ cấp, nâng cao cường độ kháng cắt của đất nền và triệt tiêu trước phần lớn độ lún cố kết dài hạn trong giai đoạn khai thác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế vật lý và nguyên lý truyền ứng suất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nền đất yếu bão hòa nước có đặc tính hệ số rỗng lớn, hàm lượng nước tự nhiên cao, tính nén lún lớn và sức chịu tải rất thấp. Khi chịu tải trọng công trình tác dụng nhanh, độ thấm nhỏ của đất dính mịn khiến nước lỗ rỗng không thể thoát ra ngay lập tức. Theo nguyên lý ứng suất hữu hiệu kinh điển do Karl Terzaghi thiết lập, ứng suất tổng trong khối đất được phân chia thành ứng suất hữu hiệu của bộ khung hạt đất và áp lực nước lỗ rỗng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma = \\sigma' + u\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> là ứng suất pháp tổng tác dụng lên phân tố đất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> là ứng suất hữu hiệu truyền qua các điểm tiếp xúc giữa các hạt khoáng vật của đất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> là áp lực nước lỗ rỗng trong các khoảng không gian chứa nước.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Tại thời điểm đặt tải trọng gia tải ban đầu, toàn bộ gia số ứng suất được tiếp nhận bởi nước lỗ rỗng, hình thành áp lực nước lỗ rỗng thặng dư. Do gradient thủy lực xuất hiện, nước lỗ rỗng bắt đầu di chuyển thoát ra các biên thoát nước xung quanh. Quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng diễn ra đồng thời với quá trình chuyển giao tải trọng sang bộ khung hạt đất, làm gia tăng ứng suất hữu hiệu, giảm thể tích lỗ rỗng và nâng cao độ bền kháng cắt của đất theo định luật sức chống cắt Mohr-Coulomb.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Giải pháp gia tốc cố kết bằng thoát nước thẳng đứng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đối với các tầng đất dính bão hòa có chiều dày lớn, thời gian cần thiết để hoàn thành độ cố kết sơ cấp dưới tải trọng gia tải đơn thuần có thể kéo dài nhiều năm hoặc hàng thập kỷ do chiều dài đường thấm thoát nước quá lớn và hệ số thấm của đất sét rất bé. Để khắc phục hạn chế này, biện pháp kết hợp gia tải nén trước với hệ thống thoát nước thẳng đứng sử dụng bấc thấm (prefabricated vertical drains - PVD) hoặc giếng cát đã trở thành tiêu chuẩn kỹ thuật trong xây dựng hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Quy cách vật liệu và bố trí bấc thấm\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9355:2012, bấc thấm bản dẹt thông dụng có cấu tạo gồm lõi nhựa định hình bằng polyolefin bọc ngoài bởi lớp vải địa kỹ thuật không dệt có chức năng lọc và dẫn nước. Tiêu chuẩn quy định bản bấc thấm thông dụng có chiều rộng 100 mm và chiều dày danh định khoảng 4 mm. Đường kính tương đương quy đổi của bấc thấm được xác định xấp xỉ 66 mm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nhằm đảm bảo quá trình thoát nước diễn ra liên tục từ các đầu bấc thấm lên bề mặt, TCVN 9355:2012 quy định thi công một lớp đệm cát thoát nước nằm ngang trực tiếp trên đầu các bấc thấm với chiều dày thiết kế tối thiểu là 50 cm. Lớp đệm cát này đóng vai trò gom nước dẫn ra hệ thống rãnh thu nước ngoài biên công trình.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Chu và cộng sự (2004) chỉ ra rằng ngoài hiện trường, các đường bấc thấm thường được cắm sâu vào tầng đất yếu theo lưới tam giác hoặc lưới ô vuông với khoảng cách cắm bấc phổ biến dao động từ 1,0 m đến 1,5 m. Việc cắm bấc thấm đã chuyển đổi chế độ thoát nước từ dòng thấm một chiều theo phương thẳng đứng thành dòng thấm hướng tâm hội tụ về các tim bấc, rút ngắn chiều dài đường thoát nước xuống chỉ còn khoảng một nửa cự ly cắm bấc.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mô hình giải tích cố kết hướng tâm Hansbo\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Lý thuyết cố kết hướng tâm cho vùng đất gia cố bấc thấm được thiết lập hoàn chỉnh bởi Hansbo và cộng sự (1981). Độ cố kết trung bình do dòng thấm ngang hướng tâm được biểu diễn qua phương trình:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">U_h = 1 - \\exp\\left(-\\frac{8 T_h}{\\mu}\\right)\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">T_h\u003C\u002Fscript> là nhân tố thời gian không thứ nguyên theo phương ngang, phụ thuộc vào hệ số cố kết ngang của đất và đường kính vùng ảnh hưởng của tim bấc.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mu\u003C\u002Fscript> là hệ số hình học tổng hợp phản ánh ảnh hưởng của khoảng cách bấc, sức kháng dọc của tim bấc và hiệu ứng vùng xáo động (smear zone).\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Trong quá trình ấn trục thép đưa bấc thấm vào lòng đất, cấu trúc tự nhiên của đất xung quanh thành trục bị cắt xé và nhào nặn tạo thành vùng xáo động có hệ số thấm bị suy giảm nghiêm trọng. Hansbo và cộng sự (1981) xác định rằng đường kính vùng xáo động thường gấp từ 2 đến 3 lần đường kính tương đương của bấc thấm, và tỷ số giữa hệ số thấm ngang nguyên trạng so với hệ số thấm trong vùng xáo động thường dao động trong khoảng từ 2 đến 6. Nghiên cứu của Chu và cộng sự (2006) tại các dự án lấn biển cũng khẳng định việc kiểm soát độ xáo động đất trong quá trình cắm bấc có ý nghĩa quyết định đối với tốc độ cố kết của các lớp bùn sét siêu mềm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phương pháp hút chân không và gia tải kết hợp\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi chiều cao khối đắp gia tải trước đòi hỏi quá lớn để đạt được độ lún mong muốn, việc đắp đất cao có thể gây mất ổn định trượt cung tròn tại mép ta-luy do tải trọng đắp vượt quá sức chịu tải tức thời của đất nền yếu. Để giải quyết mâu thuẫn này, công nghệ gia tải nén trước kết hợp hút chân không đã được nghiên cứu và chuẩn hóa trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9842:2013.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Cơ chế gia tải chân không\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo phân tích của Chai và cộng sự (2006) cùng Indraratna và cộng sự (2005), nguyên lý của phương pháp hút chân không là tạo ra áp suất khí quyển âm dưới một màng kín khí trải phủ kín toàn bộ diện tích xử lý. Bơm chân không hoạt động liên tục rút không khí và nước từ hệ thống bấc thấm, tạo áp lực chân không duy trì từ 60 kPa đến 80 kPa trong suốt thời gian xử lý nền.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt bản chất cơ học, áp lực chân không làm giảm trực tiếp áp lực nước lỗ rỗng xuống giá trị âm mà không làm tăng ứng suất tổng trên mặt đất. Mức giảm áp lực nước lỗ rỗng này chuyển hóa trực tiếp thành gia số ứng suất hữu hiệu đẳng hướng. Chai và cộng sự (2006) chứng minh rằng mức áp lực chân không từ 60 kPa đến 80 kPa tạo ra hiệu quả tăng ứng suất hữu hiệu tương đương với một khối đất đắp gia tải thông thường có chiều cao từ 3 m đến 4 m.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đặc tính biến dạng so sánh giữa hai phương pháp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sự khác biệt căn bản giữa gia tải đắp đất truyền thống và gia tải chân không thể hiện rõ nét qua trường biến dạng ngang của khối đất:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Chỉ tiêu so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Gia tải đắp đất truyền thống\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Gia tải chân không (thành phần chân không)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Trạng thái ứng suất tác dụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Gia tăng ứng suất tổng theo phương đứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Gia tăng ứng suất hữu hiệu đẳng hướng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Xu hướng biến dạng ngang mép nền\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Biến dạng phình trượt ra phía ngoài biên\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Biến dạng co ngót hướng vào tâm khu vực xử lý\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nguy cơ mất ổn định trượt mái\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nguy cơ cao khi đắp nhanh vượt ngưỡng chịu tải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không gây nguy cơ trượt trồi mép nền đất\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhu cầu vật liệu đắp đất\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đòi hỏi khối lượng đất đắp rất lớn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giảm thiểu đáng kể nhu cầu khai thác đất đắp\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Khi áp dụng giải pháp gia tải kết hợp giữa hút chân không và đắp tải, tải trọng đất đắp bổ sung sẽ gia tăng ứng suất nén thẳng đứng trong khi áp lực chân không giúp kiềm chế biến dạng phình trượt ngang, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công an toàn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Kiểm soát quan trắc hiện trường và tiêu chuẩn dỡ tải\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một nguyên tắc sống còn của công tác gia tải nén trước là quy trình quan trắc độ lún và tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng tại hiện trường theo chu kỳ thời gian. Thiết bị quan trắc bao gồm bàn đo lún bề mặt, ống đo lún sâu nhiều tầng, thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng kiểu dây rung và mốc đo chuyển vị ngang đặt tại chân mái đắp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo khuyến cáo kỹ thuật của Chu và cộng sự (2004), độ cố kết trung bình của tầng đất yếu trước thời điểm quyết định dỡ tải thông thường phải đạt tối thiểu từ 80% đến 90%. Để đánh giá chính xác thời điểm đạt độ cố kết thiết kế từ chuỗi số liệu quan trắc thực tế, các phương pháp dự báo ngoại suy toán học như phương pháp đồ thị Asaoka hoặc phương pháp đường cong Hyperbolic thường được áp dụng, giúp loại bỏ các sai số giả định từ mô hình lý thuyết ban đầu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hạn chế kỹ thuật và phạm vi ứng dụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù phương pháp gia tải nén trước mang lại hiệu quả kinh tế và kỹ thuật vượt trội, giải pháp này vẫn tồn tại những ranh giới áp dụng cần được kỹ sư địa kỹ thuật nhận định rõ ràng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Yêu cầu thời gian chờ lún:\u003C\u002Fstrong> Ngay cả khi có hệ thống bấc thấm hỗ trợ, thời gian duy trì tải trọng gia tải để đạt độ cố kết cần thiết vẫn kéo dài, đòi hỏi tiến độ tổng thể của dự án phải được hoạch định đồng bộ từ sớm.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng từ biến và lún thứ cấp:\u003C\u002Fstrong> Gia tải trước triệt tiêu hiệu quả lún cố kết sơ cấp do thoát nước lỗ rỗng, nhưng đối với các loại đất hữu cơ hoặc đất than bùn có hệ số từ biến cao, lún thứ cấp sau khi công trình đi vào vận hành vẫn có thể tiếp diễn và cần các giải pháp gia cố xi măng hoặc cọc hỗ trợ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Rủi ro xáo động và suy giảm công suất thoát nước:\u003C\u002Fstrong> Nếu bấc thấm bị gập gãy, tắc nghẽn hạt mịn hoặc vùng xáo động quá lớn do thiết bị thi công không đạt chuẩn, tốc độ thoát nước sẽ suy giảm mạnh, kéo dài thời gian gia tải ngoài dự kiến.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Preloading and Precompression",[19,20],"gia tải trước","xử lý nền bằng gia tải trước","Gia tải nén trước là phương pháp xử lý nền đất yếu bằng cách tác dụng một tải trọng tạm thời lên bề mặt trước khi xây dựng công trình chính, nhằm thúc đẩy quá trình cố kết sơ cấp, triệt tiêu lún dư và gia tăng cường độ kháng cắt của đất nền.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[24,32,40,48,56],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":31},"Hansbo, S., Jamiolkowski, M., & Kok, L. (1981). Consolidation by vertical drains. Géotechnique, 31(1), 45-66.","Consolidation by vertical drains","Hansbo, S., Jamiolkowski, M., Kok, L.","Géotechnique",1981,"10.1680\u002Fgeot.1981.31.1.45","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1680\u002Fgeot.1981.31.1.45",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":39},"Chu, J., Bo, M. W., & Choa, V. (2004). Practical considerations for using vertical drains in soil improvement projects. Geotextiles and Geomembranes, 22(1-2), 101-117.","Practical considerations for using vertical drains in soil improvement projects","Chu, J., Bo, M. W., Choa, V.","Geotextiles and Geomembranes",2004,"10.1016\u002Fs0266-1144(03)00054-2","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fs0266-1144(03)00054-2",{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":44,"year":45,"doi":46,"url":47},"Indraratna, B., Sathananthan, I., Rujikiatkamjorn, C., & Balasubramaniam, A. S. (2005). Analytical and numerical modeling of soft soil stabilized by prefabricated vertical drains incorporating vacuum preloading. International Journal of Geomechanics, 5(2), 114-124.","Analytical and Numerical Modeling of Soft Soil Stabilized by Prefabricated Vertical Drains Incorporating Vacuum Preloading","Indraratna, B., Sathananthan, I., Rujikiatkamjorn, C., Balasubramaniam, A. S.","International Journal of Geomechanics",2005,"10.1061\u002F(asce)1532-3641(2005)5:2(114)","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1061\u002F(asce)1532-3641(2005)5:2(114)",{"citationText":49,"title":50,"authors":51,"source":52,"year":53,"doi":54,"url":55},"Chai, J. C., Carter, J. P., & Hayashi, S. (2006). Vacuum consolidation and its combination with embankment loading. Canadian Geotechnical Journal, 43(10), 985-996.","Vacuum consolidation and its combination with embankment loading","Chai, J. C., Carter, J. P., Hayashi, S.","Canadian Geotechnical Journal",2006,"10.1139\u002Ft06-056","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1139\u002Ft06-056",{"citationText":57,"title":58,"authors":35,"source":36,"year":53,"doi":59,"url":60},"Chu, J., Bo, M. W., & Choa, V. (2006). Improvement of ultra-soft soil using prefabricated vertical drains. Geotextiles and Geomembranes, 24(6), 339-348.","Improvement of ultra-soft soil using prefabricated vertical drains","10.1016\u002Fj.geotexmem.2006.04.004","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.geotexmem.2006.04.004",[62,65,68],{"question":63,"answer":64},"Vì sao phải kết hợp bấc thấm thoát nước khi gia tải nén trước nền đất yếu?","Đất dính bão hòa có hệ số thấm rất nhỏ và chiều dày tầng đất lớn, khiến thời gian thoát nước theo phương đứng kéo dài hàng chục năm. Bấc thấm rút ngắn đường thấm nước sang phương ngang hội tụ về tim bấc, gia tốc tốc độ cố kết hoàn thành trong vài tháng.",{"question":66,"answer":67},"Gia tải hút chân không khác biệt căn bản như thế nào so với đắp đất gia tải truyền thống?","Gia tải chân không làm giảm áp lực nước lỗ rỗng xuống giá trị âm dưới màng kín khí mà không làm tăng ứng suất tổng trên bề mặt, triệt tiêu nguy cơ trượt cung tròn mép ta-luy và tạo biến dạng ngang co ngót vào trong thay vì phình trượt ra ngoài biên.",{"question":69,"answer":70},"Tiêu chí kỹ thuật nào quyết định thời điểm dỡ tải gia tải trước ngoài hiện trường?","Nền đất thường được quyết định dỡ tải khi độ cố kết trung bình đạt tối thiểu 80% đến 90% dựa trên chuỗi số liệu quan trắc độ lún và tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng thực tế, được ngoại suy kiểm chứng bằng phương pháp đồ thị Asaoka hoặc đường cong Hyperbolic.",{"id":72,"researcherId":10,"name":73,"imageUrl":74},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":72,"researcherId":10,"name":73,"imageUrl":74},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:56.452+00:00","2026-10-02T13:13:19.256+00:00","2026-10-02T13:13:19.232+00:00",0,[84,94,99,104,109,114,119,124,129,134],{"id":85,"title":86,"term":87,"englishTitle":88,"definition":89,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":97,"definition":98,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":102,"definition":103,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":117,"definition":118,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"trao đổi nhiệt","Trao đổi nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","heat transfer","Trao đổi nhiệt là quá trình truyền năng lượng nhiệt giữa các vật thể hoặc hệ thống vật lý có sự chênh lệch nhiệt độ qua ba cơ chế dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ cho đến khi đạt trạng thái cân bằng nhiệt.",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":125,"title":126,"term":125,"englishTitle":127,"definition":128,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":132,"definition":133,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":137,"definition":138,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]