[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_g%C3%A3y%20%C4%91%E1%BA%A7u%20xa%20x%C6%B0%C6%A1ng%20quay{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_gãy đầu xa xương quay":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":54,"createUser":64,"publishUser":68,"keywords":69,"keywordCount":80,"enrichTopicLink":81,"status":82,"createTime":83,"updateTime":84,"publishTime":85,"linkEnrichedTime":86,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":87,"relateTopics":88},"gãy đầu xa xương quay","Gãy đầu xa xương quay: Chẩn đoán, phân loại và điều trị","Gãy đầu xa xương quay là chấn thương cổ tay phổ biến nhất, đòi hỏi chẩn đoán chính xác tiêu chuẩn X-quang để lựa chọn bó bột hoặc phẫu thuật kết hợp xương.","\u003Cp>Gãy đầu xa xương quay là tình trạng gãy xương xảy ra tại vùng hành xương và đầu dưới của xương quay, nằm trong phạm vi khoảng ba centimet tính từ diện khớp quay cổ tay. Đây là một trong những chấn thương chỉnh hình phổ biến nhất trong thực hành cấp cứu chấn thương, chiếm tỷ lệ cao trong các chấn thương chi trên ở cả người trẻ tuổi do tai nạn giao thông năng lượng cao và người cao tuổi có kèm tình trạng loãng xương. Bài viết này trình bày chi tiết về đặc điểm giải phẫu học, cơ chế chấn thương, hệ thống phân loại, tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh, các chiến lược điều trị bảo tồn và phẫu thuật, cũng như quy trình phục hồi chức năng và phòng ngừa biến chứng sau gãy xương.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Dịch tễ học và cơ chế chấn thương\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Về mặt dịch tễ học chấn thương, gãy đầu xa xương quay thể hiện sự phân bố độ tuổi hai đỉnh rõ rệt. Đỉnh thứ nhất xuất hiện ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi, thường liên quan đến các tai nạn thể thao tốc độ cao hoặc {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tai%20n%E1%BA%A1n%20giao%20th%C3%B4ng%22%7D}} với lực truyền lớn. Đỉnh thứ hai, chiếm tỷ trọng áp đảo, xảy ra ở {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%E1%BB%A5%20n%E1%BB%AF%20sau%20m%C3%A3n%20kinh%22%7D}} và người cao tuổi có suy giảm mật độ khoáng chất xương. Theo nghiên cứu dịch tễ kinh điển của Court-Brown và Caesar (2006), gãy đầu xa xương quay là một trong những tổn thương xương phổ biến nhất, chiếm khoảng 17,5% tổng số các ca gãy xương ở người trưởng thành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Cơ chế chấn thương phổ biến nhất là té ngã chống bàn tay xuống đất khi cổ tay đang ở tư thế duỗi quá mức (thường được gọi trong y văn quốc tế là cơ chế FOOSH - fall on outstretched hand). Khi tiếp đất, trọng lượng toàn bộ cơ thể dồn ép qua khối xương tụ cốt cổ tay truyền thẳng lên diện khớp của đầu xa xương quay. Tùy thuộc vào góc duỗi của cổ tay, độ nghiêng quay hoặc trụ của cẳng tay, và hướng tác động của lực xoắn vặn, các dạng tổn thương khác nhau sẽ hình thành:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Gãy Colles:\u003C\u002Fstrong> Dạng gãy ngoài khớp phổ biến nhất do ngã chống tay duỗi cổ tay, làm đoạn gãy xa di lệch ngửa ra phía lưng và lệch sang phía xương quay, tạo nên hình ảnh biến dạng đặc trưng trên lâm sàng gọi là biến dạng hình nĩa (fork deformity).\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Gãy Smith (Colles đảo ngược):\u003C\u002Fstrong> Xảy ra do ngã chống tay trong tư thế cổ tay gấp về phía lòng bàn tay, khiến đoạn gãy xa di lệch gập góc ra phía trước (phía lòng), tạo nên biến dạng hình xẻng làm vườn trên lâm sàng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Gãy Barton và gãy Barton đảo:\u003C\u002Fstrong> Đây là các dạng gãy bán trật hoặc trật khớp nội khớp mất vững cao, trong đó đường gãy đi qua diện khớp và kèm theo sự di lệch của khối xương tụ cốt cùng với mảnh gãy bờ lưng hoặc bờ lòng của xương quay.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Gãy Chauffeur (gãy mỏm trâm quay):\u003C\u002Fstrong> Thường do lực tác động trực tiếp của xương thuyền va đập mạnh vào mỏm trâm quay khi cổ tay bị ép lệch về phía trụ và duỗi.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Đặc điểm giải phẫu và các thông số đo đạc trên X-quang\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đầu xa xương quay là một khối xương xốp hình chóp mở rộng, tiếp khớp với xương thuyền và xương nguyệt ở mặt khớp xa, đồng thời tiếp khớp với chỏm xương trụ tại khuyết trụ xương quay (thuộc khớp quay trụ dưới). Để đánh giá chính xác mức độ di lệch và phục hồi giải phẫu sau nắn chỉnh, bác sĩ chỉnh hình dựa vào các thông số đo đạc chuẩn trên phim chụp X-quang cổ tay tư thế thẳng (AP) và nghiêng (lateral).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo tổng quan {{topic|%7B%22topic%22%3A%22y%20h%E1%BB%8Dc%20hi%E1%BB%87n%20%C4%91%E1%BA%A1i%22%2C%22text%22%3A%22y%20h%E1%BB%8Dc%20th%E1%BB%B1c%20ch%E1%BB%A9ng%22%7D}} của Mauck và Swigler (2018), đánh giá x-quang gãy đầu xa xương quay bao gồm các tiêu chuẩn giải phẫu cơ bản: độ nghiêng xương quay bình thường từ 21 đến 25 độ, độ nghiêng mặt lòng từ 10 đến 12 độ và chiều cao xương quay từ 10 đến 12 mm. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của các chỉ số này so với cổ tay bên đối diện đều phản ánh sự biến dạng cấu trúc, làm thay đổi sự phân bổ áp lực sinh cơ học qua khớp quay cổ tay và dẫn đến thoái hóa khớp thứ phát.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Thông số X-quang\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Giá trị bình thường (Mauck và Swigler, 2018)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Ý nghĩa cơ sinh học\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Độ nghiêng xương quay (Radial inclination)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 21 đến 25 độ\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đánh giá góc giữa đường thẳng góc với trục thân xương và đường nối mỏm trâm với bờ trong diện khớp\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Độ nghiêng mặt lòng (Volar tilt)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 10 đến 12 độ\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đo trên phim nghiêng; mất góc nghiêng mặt lòng làm tăng tải trọng lên phần sau diện khớp\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Chiều cao xương quay (Radial height)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 10 đến 12 mm\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Khoảng cách giữa đỉnh mỏm trâm quay và diện khớp trụ; phản ánh độ ngắn xương quay\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Phương sai trụ (Ulnar variance)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bình thường gần như bằng không\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Phương sai trụ dương xuất hiện khi xương quay bị lún ngắn, gây hội chứng chèn ép mỏm trâm trụ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Hệ thống phân loại gãy xương\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhiều {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng%20ph%C3%A2n%20lo%E1%BA%A1i%22%7D}} đã được phát triển nhằm mô tả hình thái tổn thương, dự đoán độ mất vững và định hướng phương pháp can thiệp. Trong đó, hệ thống phân loại của Hiệp hội Kết hợp xương và Chấn thương chỉnh hình quốc tế (AO\u002FOTA) là công cụ toàn diện và phổ biến nhất trong nghiên cứu khoa học cũng như {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%B1c%20h%C3%A0nh%20l%C3%A2m%20s%C3%A0ng%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo Mauck và Swigler (2018), hệ thống phân loại AO\u002FOTA mã hoá vùng đầu xa xương quay là vị trí 23, phân chia thành ba nhóm chính gồm 23-A ngoài khớp, 23-B nội khớp một phần và 23-C nội khớp hoàn toàn:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nhóm 23-A (Gãy ngoài khớp):\u003C\u002Fstrong> Đường gãy hoàn toàn không xâm phạm vào diện khớp quay cổ tay. Nhóm này bao gồm gãy bong mỏm trâm đơn thuần, gãy hành xương hai mảnh đơn giản hoặc gãy hành xương có mảnh rời vụn. Phần lớn các ca gãy 23-A vững có thể {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%81u%20tr%E1%BB%8B%20b%E1%BA%A3o%20t%E1%BB%93n%22%7D}} hiệu quả.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nhóm 23-B (Gãy nội khớp một phần):\u003C\u002Fstrong> Đường gãy đi qua diện khớp nhưng vẫn còn một phần của diện khớp gắn liền liên tục với thân xương quay. Ví dụ kinh điển là gãy mỏm trâm quay đơn thuần (Barton mặt lòng hoặc mặt lưng). Các gãy loại này thường đòi hỏi nắn chỉnh giải phẫu chính xác diện khớp để tránh bán trật khối tụ cốt.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nhóm 23-C (Gãy nội khớp hoàn toàn):\u003C\u002Fstrong> Đường gãy chia cắt hoàn toàn diện khớp khỏi phần thân xương quay, đồng thời diện khớp bị vỡ thành nhiều mảnh. Đây là nhóm gãy phức tạp nhất, tiềm ẩn nguy cơ mất vững cao và cần {{topic|%7B%22topic%22%3A%22can%20thi%E1%BB%87p%20ph%E1%BA%ABu%20thu%E1%BA%ADt%22%7D}} mở để đặt lại mặt khớp và cố định vững chắc.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bệnh nhân sau chấn thương thường đến khám với triệu chứng đau nhức dữ dội vùng cổ tay, sưng nề nhanh chóng, bầm tím lan tỏa và mất hoàn toàn cơ năng vận động của bàn tay. Khám lâm sàng cần đánh giá kỹ lưỡng trục chi, phát hiện các biến dạng gập góc đặc trưng như hình nĩa hoặc hình xẻng, đồng thời xác định các điểm đau chói tại mỏm trâm quay, mỏm trâm trụ và khớp quay trụ dưới.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thăm khám mạch máu và thần kinh ngoại vi là bước bắt buộc không thể bỏ qua trước và sau mọi thao tác nắn chỉnh. Dây thần kinh giữa đi qua ống cổ tay ngay sát mặt trước đầu xa xương quay là cấu trúc dễ bị tổn thương nhất do chèn ép trực tiếp bởi mảnh gãy di lệch hoặc do tụ máu nội bao tăng áp lực khoang. Kiểm tra cảm giác các đầu ngón tay cái, ngón trỏ, ngón giữa và đánh giá sức cơ đối chiếu ngón cái giúp phát hiện kịp thời {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A9ng%20%E1%BB%91ng%20c%E1%BB%95%20tay%22%7D}} cấp tính.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn bắt đầu bằng chụp phim X-quang quy ước hai bình diện thẳng và nghiêng. Trong các trường hợp gãy nội khớp phức tạp hoặc nghi ngờ tổn thương dây chằng thuyền - nguyệt, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BB%A5p%20c%E1%BA%AFt%20l%E1%BB%9Bp%20vi%20t%C3%ADnh%22%7D}} (CT scan) có dựng hình không gian ba chiều được chỉ định để xác định chính xác số lượng mảnh vỡ, mức độ lún chìm của diện khớp và độ xoay của các mảnh xương, giúp lập kế hoạch mổ chi tiết.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Điều trị bảo tồn và các tiêu chuẩn mất vững\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Điều trị bảo tồn bằng nắn chỉnh kín và bất động bột là lựa chọn ưu tiên cho các ca gãy đầu xa xương quay ngoài khớp vững hoặc gãy nội khớp không di lệch. Quá trình nắn chỉnh được thực hiện dưới sự vô cảm bằng gây tê ổ gãy tại chỗ (hematoma block) hoặc tê vùng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%C3%A1m%20r%E1%BB%91i%20th%E1%BA%A7n%20kinh%20c%C3%A1nh%20tay%22%7D}}. Thầy thuốc chỉnh hình dùng lực kéo liên tục dọc theo trục ngón tay để giải phóng các mảnh xương cài vào nhau, sau đó uốn nắn đoạn gãy xa về tư thế giải phẫu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên khoa của Bộ Y tế (2016), hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế quy định điều trị bảo tồn gãy đầu dưới xương quay bằng nắn chỉnh kín và bất động bột cẳng bàn tay từ 4 đến 6 tuần đối với gãy vững ít di lệch. Trong suốt thời gian mang bột, bệnh nhân cần được chụp phim X-quang kiểm tra định kỳ vào các thời điểm một tuần và hai tuần sau nắn để phát hiện sớm hiện tượng di lệch thứ phát khi tình trạng phù nề mô mềm thuyên giảm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Việc quyết định chuyển từ điều trị bảo tồn sang phẫu thuật phụ thuộc vào việc đánh giá các tiêu chuẩn mất vững trên phim X-quang sau nắn. Theo tổng kết của Mauck và Swigler (2018), các ngưỡng mất vững sau nắn chỉnh chỉ định can thiệp phẫu thuật bao gồm: bậc thang mặt khớp lớn hơn 2 mm, góc ngửa mặt khớp lưng lớn hơn 10 độ hoặc ngắn xương quay lớn hơn 3 mm. Khi tổn thương vượt quá các ngưỡng này, điều trị bảo tồn đơn thuần sẽ dẫn đến nguy cơ cao bị can lệch xấu, làm biến dạng khớp cổ tay và hạn chế tầm vận động vĩnh viễn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các phương pháp phẫu thuật hiện đại\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi gãy đầu xa xương quay không đạt được sự nắn chỉnh giải phẫu hoặc thuộc nhóm mất vững cao, phẫu thuật kết hợp xương là chỉ định bắt buộc nhằm tái tạo mặt khớp trơn láng và phục hồi chiều dài xương quay.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Kết hợp xương bằng nẹp vít khóa mặt lòng (Volar Locking Plate):\u003C\u002Fstrong> Đây là tiêu chuẩn vàng trong phẫu thuật chấn thương cổ tay hiện nay. Thông qua đường mổ Henry mặt trước cẳng tay, nẹp khóa được đặt áp sát mặt lòng của xương quay, bắt các vít khóa dưới diện khớp để nâng đỡ cấu trúc xương dưới sụn. Phương pháp này cung cấp độ vững sinh cơ học rất cao, cho phép bệnh nhân tập vận động cổ tay chủ động rất sớm mà không cần bất động bột kéo dài.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Găm kim Kirschner qua da:\u003C\u002Fstrong> Phương pháp ít xâm lấn, sử dụng các kim thép Kirschner khoan xuyên qua mỏm trâm quay và vỏ xương đối diện dưới màn tăng sáng huỳnh quang (C-arm) để giữ vững ổ gãy. Đây là kỹ thuật tiết kiệm chi phí, ít tàn phá mô mềm, đặc biệt thích hợp cho gãy ngoài khớp ở người trẻ hoặc bệnh nhân có điều kiện kinh tế hạn chế.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khung cố định ngoài (External Fixation):\u003C\u002Fstrong> Sử dụng nguyên lý căng dãn dây chằng (ligamentotaxis) để kéo nắn các mảnh gãy thông qua các đinh Schanz cắm vào thân xương quay và xương bàn ngón hai. Phương pháp này thường được chỉ định trong gãy hở phức tạp, gãy vụn nát nhiều mảnh kèm tổn thương mô mềm nghiêm trọng hoặc bệnh nhân đa chấn thương cần kiểm soát tổn thương nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Sự lựa chọn giữa nẹp vít khóa mặt lòng và găm kim Kirschner đã được phân tích sâu sắc qua các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên đa trung tâm quy mô lớn. Theo kết quả thử nghiệm lâm sàng DRAFFT trên 461 bệnh nhân gãy đầu xa xương quay di lệch ngửa lưng cho thấy nẹp vít khoá mặt lòng và găm kim Kirschner qua da đều đạt điểm chức năng cổ tay tương đương sau 12 tháng theo dõi (Costa và cs., 2014). Mặc dù nẹp vít khóa giúp cải thiện chức năng sớm hơn trong vài tuần đầu, kết quả chức năng dài hạn giữa hai phương pháp không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, khẳng định giá trị bền vững của phương pháp găm kim qua da trong các chỉ định phù hợp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phục hồi chức năng và theo dõi biến chứng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Chương trình phục hồi chức năng cần được khởi động ngay từ ngày đầu sau chấn thương hoặc sau mổ. Bệnh nhân được khuyến khích vận động chủ động các ngón tay, khớp khuỷu và khớp vai để tăng cường tuần hoàn máu, giảm sưng nề và phòng tránh teo cơ cứng khớp. Sau khi tháo bột hoặc sau khi ổ kết hợp xương đạt độ vững sinh học, các bài tập tăng tầm vận động gập - duỗi cổ tay, nghiêng quay - nghiêng trụ và sấp - ngửa cẳng tay được tăng dần cường độ dưới sự hướng dẫn của chuyên viên vật lý trị liệu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các biến chứng thường gặp cần được phát hiện và xử trí kịp thời bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hội chứng đau vùng phức tạp (CRPS \u002F Hội chứng Sudeck):\u003C\u002Fstrong> Tình trạng rối loạn thần kinh thực vật sau chấn thương, biểu hiện bằng đau buốt bỏng rát kéo dài, sưng nề mu bàn tay, biến đổi màu sắc da và loãng xương loang lổ trên X-quang. Bổ sung Vitamin C liều cao và vận động sớm là các biện pháp đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ mắc hội chứng này.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tổn thương đứt gân duỗi dài ngón cái (EPL):\u003C\u002Fstrong> Có thể xảy ra do cọ xát cơ học mạn tính với mép nẹp vít hoặc bờ gãy xương sắc nhọn tại củ Lister, thường xuất hiện sau chấn thương từ vài tuần đến vài tháng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Can lệch và thoái hóa khớp quay cổ tay:\u003C\u002Fstrong> Di lệch bậc thang diện khớp không được giải quyết sẽ đẩy nhanh quá trình mòn sụn, gây đau khớp mạn tính và giảm lực nắm bàn tay.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>","distal radius fracture",[19,20],"gãy đầu dưới xương quay","gãy Colles","Gãy đầu xa xương quay là tình trạng tổn thương gián đoạn cấu trúc xương xảy ra tại vùng hành xương và diện khớp đầu dưới xương quay, thường do cơ chế ngã chống bàn tay duỗi quá mức.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[24,32,40,48],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":31},"Mauck, B. M., & Swigler, C. W. (2018). Evidence-Based Review of Distal Radius Fractures. Orthopedic Clinics of North America, 49(2), 211–222.","Evidence-Based Review of Distal Radius Fractures","Mauck, Swigler","Orthopedic Clinics of North America",2018,"10.1016\u002Fj.ocl.2017.12.001","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.ocl.2017.12.001",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":39},"Court-Brown, W. M., & Caesar, B. (2006). Epidemiology of adult fractures: A review. Injury, 37(8), 691–697.","Epidemiology of adult fractures: A review","Court-Brown, Caesar","Injury",2006,"10.1016\u002Fj.injury.2006.04.130","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.injury.2006.04.130",{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":44,"year":45,"doi":46,"url":47},"Costa, M. L., Achten, J., Parsons, N. R., Rangan, A., Griffin, D., Tubeuf, L., & Lamb, S. E. (2014). Percutaneous fixation with Kirschner wires versus volar locking plate fixation in adults with dorsally displaced fracture of distal radius: randomised controlled trial. BMJ, 349, g4807.","Percutaneous fixation with Kirschner wires versus volar locking plate fixation in adults with dorsally displaced fracture of distal radius: randomised controlled trial","Costa, Achten, Parsons, Rangan, Griffin, Tubeuf, Lamb","BMJ",2014,"10.1136\u002Fbmj.g4807","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1136\u002Fbmj.g4807",{"citationText":49,"title":50,"authors":51,"source":51,"year":52,"doi":10,"url":53},"Bộ Y tế. (2016). Quyết định 4484\u002FQĐ-BYT về Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Ngoại khoa, chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình.","Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Ngoại khoa, chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình","Bộ Y tế",2016,"https:\u002F\u002Fluatvietnam.vn\u002Fy-te\u002Fquyet-dinh-4484-qd-byt-huong-dan-quy-trinh-ky-thuat-ngoai-khoa-chan-thuong-chinh-hinh-107775-d1.html",[55,58,61],{"question":56,"answer":57},"Gãy đầu xa xương quay có bắt buộc phải phẫu thuật không?","Không phải mọi trường hợp đều cần mổ; phần lớn gãy vững ngoài khớp hoặc gãy ít di lệch có thể điều trị bảo tồn bằng nắn kín và bó bột cẳng bàn tay từ 4 đến 6 tuần. Phẫu thuật chỉ được chỉ định khi ổ gãy mất vững với bậc thang mặt khớp lớn hơn 2 mm, góc ngửa mặt khớp lưng lớn hơn 10 độ hoặc ngắn xương quay lớn hơn 3 mm.",{"question":59,"answer":60},"Các thông số giải phẫu bình thường trên X-quang cổ tay là gì?","Các thông số chuẩn trên phim X-quang gồm độ nghiêng xương quay từ 21 đến 25 độ, độ nghiêng mặt lòng từ 10 đến 12 độ và chiều cao xương quay từ 10 đến 12 mm so với diện khớp trụ.",{"question":62,"answer":63},"Nẹp vít khóa mặt lòng có tốt hơn găm kim Kirschner qua da không?","Thử nghiệm lâm sàng DRAFFT trên 461 bệnh nhân cho thấy mặc dù nẹp vít khóa giúp phục hồi chức năng sớm hơn trong giai đoạn đầu, nhưng sau 12 tháng theo dõi thì kết quả chức năng cổ tay giữa nẹp vít khóa mặt lòng và găm kim Kirschner qua da là tương đương nhau.",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},[70,71,72,73,74,75,76,77,78,79],"tai nạn giao thông","phụ nữ sau mãn kinh","y học hiện đại","hệ thống phân loại","thực hành lâm sàng","điều trị bảo tồn","can thiệp phẫu thuật","hội chứng ống cổ tay","chụp cắt lớp vi tính","đám rối thần kinh cánh tay",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:48.269+00:00","2026-09-14T10:12:51.048+00:00","2026-09-14T09:14:14.715+00:00","2026-09-14T10:12:50.568+00:00",0,[89,92,95,98,101,104,107,110,120,123],{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"sf 36","SF-36 là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học về SF-36",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"acute toxicity","Acute toxicity là gì? Các nghiên cứu khoa học về Acute toxicity",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu đoàn hệ","Nghiên cứu đoàn hệ là gì? Các công bố về Nghiên cứu đoàn hệ",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"can thiệp dinh dưỡng","Can thiệp dinh dưỡng là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ontology","Ontology là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Ontology",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"dây chằng liềm","Dây chằng liềm là gì? Các công bố khoa học về Dây chằng liềm",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khuyết tật trí tuệ","Khuyết tật trí tuệ là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":113,"definition":114,"discipline":115,"disciplineCode":116,"disciplineLabel":117,"disciplineColor":118,"disciplineIcon":119},"trích xuất đặc trưng","Trích xuất đặc trưng là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học","feature extraction","Trích xuất đặc trưng là quá trình biến đổi dữ liệu thô đầu vào thành một tập hợp các thuộc tính số lượng đại diện cô đọng và có tính phân biệt cao phục vụ cho các thuật toán học máy và nhận dạng mẫu.","ENGINEERING_TECHNOLOGY","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhân trắc","Nhân trắc là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khí hậu","Khí hậu là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan đến Khí hậu"]