[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_d%E1%BA%ABn%20s%C3%B3ng{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_dẫn sóng":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":59,"createUser":69,"publishUser":73,"keywords":74,"keywordCount":85,"enrichTopicLink":86,"status":87,"createTime":88,"updateTime":89,"publishTime":90,"linkEnrichedTime":91,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":92,"relateTopics":93},"dẫn sóng","Dẫn sóng là gì? Nguyên lý, phân loại và ứng dụng","Dẫn sóng là cấu trúc vật lý định hướng sự lan truyền của sóng điện từ, giam giữ năng lượng nhờ phản xạ kim loại hoặc phản xạ toàn phần trong điện môi.","\u003Cp>Dẫn sóng (tiếng Anh: waveguide, còn gọi là ống dẫn sóng) là cấu trúc vật lý có chức năng định hướng và giam giữ sự lan truyền của sóng điện từ, sóng âm hoặc sóng cơ học dọc theo một quỹ đạo không gian xác định, ngăn chặn sự tiêu tán năng lượng do hiện tượng phân kỳ và tán xạ vào môi trường xung quanh. Trong kỹ thuật điện từ và quang học, dẫn sóng đóng vai trò thiết yếu trong việc chuyển giao năng lượng và tín hiệu tần số cao từ nguồn phát đến thiết bị thu với hiệu suất bảo toàn năng lượng tối ưu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý vật lý và phương trình trường điện từ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự lan truyền của sóng điện từ bên trong một cấu trúc dẫn sóng được mô tả đầy đủ bởi hệ phương trình Maxwell cùng các điều kiện biên tương ứng trên bề mặt giới hạn. Đối với môi trường điện môi tuyến tính, đồng nhất và đẳng hướng bên trong dẫn sóng, phương trình sóng Helmholtz dạng điều hòa thời gian đối với vector cường độ điện trường có dạng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\nabla^2 \\mathbf{E} + k^2 \\mathbf{E} = 0\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k = \\omega \\sqrt{\\mu \\varepsilon}\u003C\u002Fscript> biểu diễn số sóng của môi trường truyền dẫn, với \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\omega\u003C\u002Fscript> là tần số góc, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mu\u003C\u002Fscript> là độ từ thẩm và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\varepsilon\u003C\u002Fscript> là {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BA%B1ng%20s%E1%BB%91%20%C4%91i%E1%BB%87n%20m%C3%B4i%22%7D}}. Giả sử sóng lan truyền dọc theo trục \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> với sự phụ thuộc không gian dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">e^{-j \\beta z}\u003C\u002Fscript>, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22to%C3%A1n%20t%E1%BB%AD%20vi%20ph%C3%A2n%22%7D}} Laplace được phân tách thành thành phần ngang và thành phần dọc:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\nabla_t^2 \\mathbf{E} + (k^2 - \\beta^2) \\mathbf{E} = 0\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k_c = \\sqrt{k^2 - \\beta^2}\u003C\u002Fscript> được định nghĩa là số sóng cắt của mode sóng. Hằng số pha lan truyền dọc trục \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\beta\u003C\u002Fscript> được xác định theo hệ thức căn bậc hai:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\beta = \\sqrt{k^2 - k_c^2}\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Từ hệ thức cơ bản này, tính chất truyền dẫn của dẫn sóng phụ thuộc quyết định vào tần số hoạt động:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k > k_c\u003C\u002Fscript> (tần số cao hơn tần số cắt):\u003C\u002Fstrong> Hằng số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\beta\u003C\u002Fscript> nhận giá trị thực dương, sóng điện từ lan truyền tự do dọc theo trục dẫn sóng với biên độ không đổi nếu bỏ qua tiêu hao vật liệu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k \u003C k_c\u003C\u002Fscript> (tần số thấp hơn tần số cắt):\u003C\u002Fstrong> Hằng số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\beta\u003C\u002Fscript> trở thành số thuần ảo (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\beta = -j \\alpha\u003C\u002Fscript>), biên độ trường điện từ suy giảm theo hàm mũ lũy thừa theo khoảng cách dọc trục mà không truyền tải công suất thực tế, gọi là sóng tiêu tán (evanescent wave).\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Lịch sử phát triển và các cột mốc nghiên cứu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Lý thuyết và công nghệ dẫn sóng đã trải qua hơn một thế kỷ phát triển với các bước ngoặt nghiên cứu quan trọng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Lord Rayleigh (1897):\u003C\u002Fstrong> Đặt nền móng lý thuyết đầu tiên chứng minh sóng điện từ có thể truyền qua các ống kim loại rỗng và ống điện môi vào năm 1897, thiết lập khái niệm tần số cắt giới hạn và chỉ ra rằng sóng điện từ hoàn toàn có thể lan truyền bên trong một ống rỗng kín mà không cần ruột dẫn đồng trục bên trong nếu bước sóng đủ ngắn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Chu và Barrow (1938):\u003C\u002Fstrong> Công bố {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20to%C3%A1n%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} toàn diện và kiểm chứng thực nghiệm sự truyền sóng trong ống dẫn sóng kim loại tiết diện chữ nhật vào năm 1938 tại Viện Công nghệ Massachusetts, thiết lập các nghiệm mode sóng chuẩn tắc và chỉ rõ cấu trúc trường điện từ trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%C3%B4ng%20gian%20ba%20chi%E1%BB%81u%22%7D}} của ống dẫn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kao và Hockham (1966):\u003C\u002Fstrong> Đề xuất sợi quang dẫn sóng điện môi làm môi trường truyền dẫn quang học với độ suy hao thấp dưới ngưỡng 20 dB\u002Fkm vào năm 1966. Nghiên cứu này chỉ ra rằng cơ chế suy hao cao trong thủy tinh thời bấy giờ chủ yếu do tạp chất ion kim loại, đặt nền tảng kỹ thuật cho việc triển khai các hệ thống thông tin sợi quang.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Bogaerts và cộng sự (2020):\u003C\u002Fstrong> Tổng quan sự phát triển của mạch tích hợp quang học dựa trên mạng lưới các ống dẫn sóng silicon trên chip vào năm 2020 trên tạp chí Nature, minh chứng khả năng định tuyến và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22x%E1%BB%AD%20l%C3%BD%20t%C3%ADn%20hi%E1%BB%87u%22%7D}} quang học tái cấu hình cho truyền thông và tính toán hiệu năng cao.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Phân loại các mode sóng điện từ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tuỳ thuộc vào sự tồn tại của thành phần điện trường và từ trường theo phương truyền sóng dọc trục \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript>, các mode sóng trong cấu trúc dẫn sóng được phân loại thành ba họ cơ bản:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mode sóng điện ngang TE (Transverse Electric)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Ở mode sóng này, vector cường độ điện trường hoàn toàn vuông góc với phương lan truyền (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_z = 0\u003C\u002Fscript>), trong khi vector cường độ từ trường có thành phần dọc trục phi không (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H_z \\neq 0\u003C\u002Fscript>). Trong ống dẫn sóng kim loại chữ nhật có kích thước bề rộng cạnh ngang \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">a\u003C\u002Fscript> và chiều cao cạnh đứng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">b\u003C\u002Fscript> (với \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">a > b\u003C\u002Fscript>), mode cơ bản thống trị có tần số cắt thấp nhất theo phân tích của Chu và Barrow (1938) là mode TE10 với chỉ số mode \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">m\u003C\u002Fscript> bằng 1 và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> bằng 0. Bước sóng cắt của mode sóng này được xác định bằng hai lần chiều rộng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\lambda_c = 2a\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Khi bước sóng tự do của tín hiệu nằm trong khoảng từ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">a\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">2a\u003C\u002Fscript> (với tỷ lệ cạnh thông dụng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">b \u003C a\u002F2\u003C\u002Fscript>), chỉ duy nhất mode cơ bản TE10 có thể lan truyền được, đảm bảo chế độ hoạt động đơn mode ổn định và triệt tiêu nguy cơ méo tín hiệu do tán sắc mode.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mode sóng từ ngang TM (Transverse Magnetic)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Ở mode sóng TM, vector cường độ từ trường hoàn toàn vuông góc với phương truyền sóng (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H_z = 0\u003C\u002Fscript>), trong khi vector điện trường có thành phần dọc trục lan truyền (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_z \\neq 0\u003C\u002Fscript>). Đối với ống dẫn sóng kim loại chữ nhật, các chỉ số mode \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">m\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> của mode TM đều phải lớn hơn hoặc bằng một để thỏa mãn các điều kiện biên điện từ tại các thành dẫn kim loại lý tưởng, do đó mode TM bậc thấp nhất bắt buộc là mode TM11.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mode sóng điện từ ngang thuần túy TEM (Transverse Electromagnetic)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Ở mode sóng TEM, cả điện trường và từ trường đều hoàn toàn nằm trong mặt phẳng trực giao với phương lan truyền (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_z = 0\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H_z = 0\u003C\u002Fscript>). Mode sóng TEM không có tần số cắt và có thể truyền tín hiệu từ tần số một chiều (DC) trở lên. Tuy nhiên, theo định lý thế tĩnh điện Dirichlet, mode TEM không thể tồn tại bên trong một ống dẫn sóng kim loại rỗng chỉ chứa một mặt dẫn duy nhất mà chỉ có thể truyền tải trong các hệ thống đường truyền có từ hai vật dẫn độc lập cách điện trở lên, chẳng hạn như cáp đồng trục hoặc đường truyền hai dây song song.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Loại cấu trúc dẫn sóng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Cơ chế giam giữ năng lượng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Các mode sóng hỗ trợ\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Dải tần số ứng dụng tiêu biểu\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Ống kim loại rỗng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phản xạ kim loại từ vách dẫn điện\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mode TE và Mode TM\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dải vi ba và sóng milimet\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cáp đồng trục\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Điện từ trường (cả điện trường hướng tâm và từ trường vòng) trong điện môi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mode TEM, mode bậc cao TE\u002FTM\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ dòng một chiều đến {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BA%A7n%20s%E1%BB%91%20v%C3%B4%20tuy%E1%BA%BFn%22%7D}} cao\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Đường vi dải (Microstrip)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Điện từ trường giữa bản dẫn và mặt đất\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Quasi-TEM, mode hỗn hợp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mạch tích hợp vi ba bán dẫn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Sợi quang điện môi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phản xạ toàn phần tại mặt phân cách lõi-vỏ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mode lai HE, EH và mode tuyến tính LP\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hồng ngoại gần và quang học\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dẫn sóng silicon trên chip\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Độ tương phản chiết suất cao giữa Si và SiO2\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Quasi-TE và Quasi-TM bậc thấp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mạch tích hợp quang tử học nano\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Vận tốc pha và vận tốc nhóm trong cấu trúc dẫn sóng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Theo chuyên khảo kỹ thuật vi ba của Collin (2001), một đặc trưng vật lý cốt lõi của dẫn sóng là hiện tượng tán sắc hình học, xuất phát từ việc trường điện từ phản xạ nhiều lần giữa các mặt biên giới hạn. Gọi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">v = 1\u002F\\sqrt{\\mu\\varepsilon}\u003C\u002Fscript> là vận tốc pha của sóng phẳng trong môi trường điện môi khối vô hạn, vận tốc pha biểu diễn tốc độ dịch chuyển của các mặt đồng pha bên trong ống dẫn sóng có dạng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">v_p = \\frac{\\omega}{\\beta} = \\frac{v}{\\sqrt{1 - \\left(\\frac{f_c}{f}\\right)^2}}\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Nếu môi trường bên trong ống dẫn sóng là chân không hoặc không khí (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">v \\approx c\u003C\u002Fscript>), vận tốc pha \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">v_p\u003C\u002Fscript> luôn lớn hơn vận tốc ánh sáng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c\u003C\u002Fscript>, nhưng hiện tượng này không vi phạm thuyết tương đối hẹp vì mặt đồng pha hình học không mang theo thông tin hay truyền tải năng lượng. Trường hợp ống dẫn chứa chất điện môi có chiết suất lớn, vận tốc pha hoàn toàn có thể nhỏ hơn vận tốc ánh sáng trong chân không nhưng luôn lớn hơn vận tốc sóng phẳng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">v\u003C\u002Fscript> trong môi trường đó. Ngược lại, tốc độ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22chuy%E1%BB%83n%20giao%20n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} thực tế được đo lường bằng vận tốc nhóm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">v_g = \\frac{d\\omega}{d\\beta} = v \\sqrt{1 - \\left(\\frac{f_c}{f}\\right)^2}\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Tích số giữa vận tốc pha và vận tốc nhóm của một mode sóng trong môi trường điện môi đồng nhất không tiêu hao luôn thỏa mãn hệ thức tương hỗ xác định:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">v_p \\cdot v_g = v^2\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Khi tần số hoạt động tiến sát về tần số cắt, vận tốc nhóm suy giảm về không, năng lượng điện từ chỉ dao động tại chỗ giữa hai thành dẫn biên mà không thể truyền dọc trục dẫn sóng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng kỹ thuật thực tế và bối cảnh triển khai\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Cấu trúc dẫn sóng được triển khai sâu rộng trong nhiều ngành công nghệ mũi nhọn hiện đại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ thống radar và phát xạ vi ba công suất lớn:\u003C\u002Fstrong> Trong các đài radar hàng hải, radar giám sát không lưu và máy gia tốc hạt, các ống dẫn sóng kim loại chuẩn chữ nhật (chẳng hạn như chuẩn ống dẫn sóng chữ nhật chuyên dụng cho băng tần X) là lựa chọn duy nhất để truyền tải công suất đỉnh hàng trăm kilowatt với tổn hao nhiệt thấp mà cáp đồng trục không thể chịu đựng được do nguy cơ đánh thủng điện môi.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hạ tầng viễn thông sợi quang toàn cầu:\u003C\u002Fstrong> Sợi quang học dẫn sóng đơn mode theo khuyến nghị quốc tế ITU-T G.652 là xương sống của toàn bộ mạng Internet quốc tế và mạng truyền dẫn viễn thông liên tỉnh tại Việt Nam, cho phép truyền tải dung lượng terabit trên giây qua cự ly hàng nghìn kilomet nhờ độ suy hao quang học cực thấp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mạch tích hợp quang tử học nano (PIC):\u003C\u002Fstrong> Trên các vi chip silicon photonics thế hệ mới, các ống dẫn sóng silicon dạng dải với kích thước tiết diện cỡ vài trăm nanomet giam giữ ánh sáng cực kỳ chặt chẽ nhờ độ tương phản chiết suất lớn giữa lõi silicon và vỏ silicon dioxide. Công nghệ này cho phép tích hợp hàng nghìn linh kiện quang học trên một chip đơn lẻ phục vụ các trung tâm dữ liệu {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%C3%AD%20tu%E1%BB%87%20nh%C3%A2n%20t%E1%BA%A1o%22%7D}} và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C3%ADnh%20to%C3%A1n%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ranh giới kỹ thuật và các thách thức nghiên cứu đương đại\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù cấu trúc dẫn sóng mang lại khả năng truyền dẫn công suất lớn và độ suy giảm năng lượng thấp, kỹ thuật dẫn sóng hiện đại vẫn phải đối mặt với các giới hạn vật lý quan trọng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tán sắc mode và tán sắc vận tốc nhóm:\u003C\u002Fstrong> Trong các cấu trúc dẫn sóng đa mode, các mode sóng khác nhau lan truyền với vận tốc nhóm khác nhau, dẫn đến hiện tượng dãn rộng xung tín hiệu theo thời gian và giới hạn băng thông truyền dữ liệu trong hệ thống truyền dẫn thông tin.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Suy hao bề mặt do hiệu ứng da ở tần số cực cao:\u003C\u002Fstrong> Khi tần số truyền dẫn tăng vọt lên miền terahertz, độ sâu xâm nhập của dòng điện mặt trong kim loại co lại cực nhỏ, khiến {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%87n%20tr%E1%BB%9F%20b%E1%BB%81%20m%E1%BA%B7t%22%7D}} tăng vọt và làm tăng mạnh độ suy hao truyền sóng do nhiệt Joule trong các ống dẫn kim loại.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giới hạn nhiễu xạ quang học và xu hướng plasmonic:\u003C\u002Fstrong> Các cấu trúc dẫn sóng điện môi truyền thống bị ràng buộc bởi giới hạn nhiễu xạ quang học, không thể giam giữ ánh sáng ở kích thước không gian nhỏ hơn bước sóng hiệu dụng. Để vượt qua rào cản này trong công nghệ vi mạch tích hợp mật độ cao, các cấu trúc dẫn sóng plasmonic bề mặt sử dụng dao động liên kết giữa electron dẫn và photon (plasmon bề mặt) tại mặt tiếp xúc kim loại-điện môi đang được tập trung nghiên cứu nhằm thu nhỏ kích thước mạch quang xuống cấp độ dưới bước sóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>","waveguide",[19,20],"ống dẫn sóng","cấu trúc dẫn sóng","Dẫn sóng (tiếng Anh: waveguide, còn gọi là ống dẫn sóng) là cấu trúc vật lý có chức năng định hướng và giam giữ sự lan truyền của sóng điện từ, sóng âm hoặc sóng cơ học dọc theo một quỹ đạo không gian xác định.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[24,31,38,45,52],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":10},"Rayleigh, Lord. (1897). On the passage of electric waves through tubes, or the vibrations of dielectric cylinders. The London, Edinburgh, and Dublin Philosophical Magazine and Journal of Science, 43(261), 125-132.","On the passage of electric waves through tubes, or the vibrations of dielectric cylinders","Rayleigh","The London, Edinburgh, and Dublin Philosophical Magazine and Journal of Science",1897,"10.1080\u002F14786449708620969",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":10},"Chu, L. J., & Barrow, W. L. (1938). Electromagnetic Waves in Hollow Metal Tubes of Rectangular Cross Section. Proceedings of the IRE, 26(12), 1520-1555.","Electromagnetic Waves in Hollow Metal Tubes of Rectangular Cross Section","Chu, Barrow","Proceedings of the IRE",1938,"10.1109\u002Fjrproc.1938.228271",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":42,"year":43,"doi":44,"url":10},"Kao, K. C., & Hockham, G. A. (1966). Dielectric-fibre surface waveguides for optical frequencies. Proceedings of the Institution of Electrical Engineers, 113(7), 1151-1158.","Dielectric-fibre surface waveguides for optical frequencies","Kao, Hockham","Proceedings of the Institution of Electrical Engineers",1966,"10.1049\u002Fpiee.1966.0189",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":10},"Collin, R. E. (2001). Foundations for Microwave Engineering. 2nd Edition, Wiley-IEEE Press.","Foundations for Microwave Engineering","Collin","Wiley-IEEE Press",2001,"10.1109\u002F9780470544662",{"citationText":53,"title":54,"authors":55,"source":56,"year":57,"doi":58,"url":10},"Bogaerts, W. et al. (2020). Programmable photonic circuits. Nature, 586(7828), 207-216.","Programmable photonic circuits","Bogaerts, Pérez, Capmany","Nature",2020,"10.1038\u002Fs41586-020-2764-0",[60,63,66],{"question":61,"answer":62},"Vì sao mode sóng TEM thuần túy không thể lan truyền trong ống dẫn sóng kim loại rỗng một ruột dẫn?","Theo định lý thế tĩnh điện Dirichlet, một miền không gian kín có điện thế biên không đổi không thể tồn tại điện trường tĩnh khác không bên trong; do đó mode sóng TEM (có thành phần trường dọc bằng 0) chỉ có thể tồn tại trong các hệ thống đường truyền có từ hai vật dẫn độc lập cách điện trở lên như cáp đồng trục.",{"question":64,"answer":65},"Tần số cắt của một mode sóng trong dẫn sóng có ý nghĩa vật lý như thế nào?","Tần số cắt là ngưỡng tần số tối thiểu để hằng số pha lan truyền nhận giá trị thực, cho phép sóng lan truyền dọc theo cấu trúc; dưới tần số này, sóng bị phản xạ và suy giảm theo hàm mũ lũy thừa mà không truyền tải công suất thực tế.",{"question":67,"answer":68},"Vận tốc pha trong ống dẫn sóng kim loại lớn hơn vận tốc ánh sáng có vi phạm thuyết tương đối không?","Không vi phạm thuyết tương đối hẹp, vì vận tốc pha chỉ mô tả tốc độ dịch chuyển của các mặt đồng pha hình học mà không mang theo thông tin hay truyền tải năng lượng; tốc độ truyền tải tín hiệu và năng lượng thực tế do vận tốc nhóm quyết định và vận tốc nhóm luôn nhỏ hơn vận tốc sóng trong môi trường.",{"id":70,"researcherId":10,"name":71,"imageUrl":72},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":70,"researcherId":10,"name":71,"imageUrl":72},[75,76,77,78,79,80,81,82,83,84],"hằng số điện môi","toán tử vi phân","phân tích toán học","không gian ba chiều","xử lý tín hiệu","tần số vô tuyến","chuyển giao năng lượng","trí tuệ nhân tạo","tính toán lượng tử","điện trở bề mặt",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:09.812+00:00","2026-09-05T14:08:37.618+00:00","2026-09-05T13:17:58.679+00:00","2026-09-05T14:08:37.215+00:00",0,[94,97,100,103,106,109,112,115,118,121],{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ngữ nghĩa","Ngữ nghĩa là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ngữ nghĩa",{"id":98,"title":99,"term":98,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình lý thuyết","Mô hình lý thuyết là gì? Các nghiên cứu về Mô hình lý thuyết",{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hình thái","Hình thái là gì? Các công bố khoa học về Hình thái",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"toán cao cấp","Toán cao cấp là gì? Các nghiên cứu khoa học về Toán cao cấp",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chất lượng thông tin","Chất lượng thông tin là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nguyên tử hydro","Nguyên tử hydro là gì? Các công bố khoa học về Nguyên tử hydro",{"id":113,"title":114,"term":113,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"autonomy","Autonomy là gì? Các công bố khoa học về Autonomy",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu tổng quan","Nghiên cứu tổng quan là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học",{"id":119,"title":120,"term":119,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tối ưu hoá","Tối ưu hoá là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tối ưu hoá",{"id":122,"title":123,"term":122,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương pháp đại số","Phương pháp đại số là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan"]