[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_chu%E1%BB%99t%20hr%201{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_chu%E1%BB%99t%20hr%201":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":52,"createUser":65,"publishUser":69,"keywords":70,"keywordCount":66,"enrichTopicLink":71,"status":72,"createTime":73,"updateTime":74,"publishTime":75,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":76,"wikidataId":10,"relateTopics":77},"chuột hr 1","Chuột HR-1 (HR-1 hairless mouse) là gì?","Tìm hiểu về chuột HR-1, dòng chuột nhắt thí nghiệm đột biến không lông quan trọng trong nghiên cứu da liễu học, quang sinh học và thử nghiệm dược lý qua da.","\u003Cp>Chuột HR-1 là dòng chuột nhắt thí nghiệm mang đột biến lặn đồng hợp tử trên gen hairless quy định kiểu hình rụng lông tự phát, được sử dụng phổ biến làm mô hình động vật trong nghiên cứu da liễu học, quang sinh học và dược lý học ngoài da. Nhờ đặc điểm lớp biểu bì không có lông che phủ nhưng vẫn duy trì hệ miễn dịch lympho T nguyên vẹn, dòng chuột này cho phép đánh giá trực tiếp các can thiệp ngoài da mà không cần thực hiện biện pháp cạo lông nhân tạo. Bài viết cung cấp phân tích chi tiết về cơ sở di truyền, đặc điểm hình thái biểu bì, các mô hình thực nghiệm tiêu biểu, bảng so sánh đối chiếu và những giới hạn phương pháp luận khi sử dụng dòng chuột này trong nghiên cứu y sinh học.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguồn gốc và cơ sở di truyền học của dòng chuột HR-1\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dòng chuột Hos:HR-1 được thiết lập và nhân giống ổn định tại Nhật Bản bởi cơ sở Hoshino Laboratory Animals từ nguồn chuột thí nghiệm Skh:HR-1 tiếp nhận vào năm 1987. Về mặt di truyền học, kiểu hình rụng lông của dòng chuột này bắt nguồn từ đột biến lặn trên gen hairless (ký hiệu là Hr), một gen nằm trên nhiễm sắc thể số 14 ở chuột (Suzuki và cs., 2013). Đột biến xảy ra do sự chèn đoạn retrovirus murine leukemia virus vào vùng intron 6 của gen Hr, dẫn đến biến đổi cấu trúc bản phiên mã và ức chế hoàn toàn quá trình sinh tổng hợp protein HR chức năng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Protein HR đóng vai trò là một chất đồng ức chế phiên mã nhân tế bào, tương tác chặt chẽ với các thụ thể nhân như thụ thể hormone tuyến giáp, thụ thể acid retinoic và thụ thể vitamin D. Khi protein HR bị bất hoạt do đột biến, quá trình truyền tín hiệu điều hoà chu kỳ tế bào biểu mô nang lông bị gián đoạn nghiêm trọng. Điều này làm cho nang lông không thể hoàn thành chu kỳ sinh trưởng bình thường sau giai đoạn mọc lông đầu tiên, dẫn đến hiện tượng thoái hoá và rụng lông hàng loạt trên diện rộng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc điểm phát triển hình thái và giải phẫu biểu bì\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Chuột HR-1 biểu hiện quá trình phát triển lông và cấu trúc biểu bì qua các giai đoạn biến đổi đặc trưng theo thời gian sinh trưởng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn sơ sinh đến 2 tuần tuổi:\u003C\u002Fstrong> Chuột con khi mới sinh ra có ngoại hình tương tự các dòng chuột nhắt trắng thông thường, sở hữu lớp lông tơ nguyên vẹn bao phủ toàn bộ cơ thể trong chu kỳ phát triển nang lông đầu tiên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn rụng lông từ 2 đến 3 tuần tuổi:\u003C\u002Fstrong> Khi bước vào chu kỳ nang lông thứ hai, các nang lông bắt đầu thoái triển bất thường. Hiện tượng rụng lông bắt đầu xuất hiện quanh vùng mi mắt, vùng đầu và nhanh chóng lan rộng xuống lưng và các chi (Benavides và cs., 2009).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn trưởng thành từ 3 đến 4 tuần tuổi:\u003C\u002Fstrong> Chuột hoàn toàn mất lớp lông trên thân mình ở giai đoạn cai sữa, để lộ bề mặt da nhẵn mịn có màu hồng nhạt đặc trưng của chuột bạch tạng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Dưới góc độ mô học, phần sâu của nang lông bị đứt đoạn khỏi nhú bì trong giai đoạn thoái triển, sau đó phát triển thành các cấu trúc nang biểu bì rỗng (utricles) chứa đầy chất sừng tích tụ trong lớp trung bì. Tuyến bã nhờn của chuột HR-1 phì đại và biến đổi cấu trúc, làm thay đổi thành phần lipid trên bề mặt biểu bì so với các dòng chuột hoang dại thông thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hệ miễn dịch và sự khác biệt căn bản với chuột vô tuyến ức\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một đặc điểm sinh học then chốt giúp chuột HR-1 chiếm vị trí đặc biệt trong nghiên cứu y sinh là tính nguyên vẹn của hệ thống miễn dịch (Benavides và cs., 2009). Nhiều nhà nghiên cứu thường nhầm lẫn giữa chuột không lông mang đột biến Hr với chuột khoả thân vô tuyến ức mang đột biến gen Foxn1:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Tiêu chí so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Chuột HR-1 (Hos:HR-1)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Chuột khoả thân (Foxn1 nude)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Chuột có lông đối chứng\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Gen đột biến\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Gen Hr trên nhiễm sắc thể 14\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đột biến gen Foxn1\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có đột biến rụng lông\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tuyến ức\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phát triển đầy đủ và bình thường\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có tuyến ức bẩm sinh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phát triển bình thường\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Miễn dịch lympho T\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hệ tế bào T hoạt động nguyên vẹn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Suy giảm nghiêm trọng tế bào T\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hệ tế bào T hoạt động bình thường\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Khả năng loại bỏ mảnh ghép\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đào thải mô dị loại mạnh mẽ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dung nạp mô ghép dị loài người\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đào thải mô dị loại bình thường\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phản ứng viêm ngoài da\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đáp ứng viêm và dị ứng hoàn chỉnh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thiếu hụt miễn dịch qua trung gian tế bào\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đáp ứng viêm và dị ứng hoàn chỉnh\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Nhờ sở hữu tuyến ức bình thường và quần thể tế bào lympho T đầy đủ, chuột HR-1 có khả năng phát triển các phản ứng viêm da tiếp xúc dị ứng, phản ứng quá mẫn muộn và đáp ứng miễn dịch tế bào hoàn chỉnh đối với các kháng nguyên hoặc tác nhân kích ứng ngoài môi trường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các mô hình bệnh lý thực nghiệm tiêu biểu\u003C\u002Fh2>\n\u003Ch3>1. Mô hình lão hoá da do bức xạ tia tử ngoại\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Chuột HR-1 là tiêu chuẩn thực nghiệm hàng đầu trong các nghiên cứu đánh giá tác động gây hại của bức xạ tia cực tím và thử nghiệm hoạt chất chống lão hoá quang hoá. Trong các đề cương nghiên cứu thực nghiệm, chuột Hos:HR-1 được chiếu xạ tia tử ngoại dải B (UVB) kéo dài trong 7 tuần (Fujii và cs., 2013). Phơi nhiễm mạn tính với UVB dẫn đến các biến đổi bệnh lý sâu sắc:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Gây suy giảm độ ẩm biểu bì và phá huỷ cấu trúc hàng rào bảo vệ tự nhiên của da.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Kích thích hiện tượng tăng sinh biểu bì bất thường dẫn đến dày sừng và hình thành các nếp nhăn sâu thô ráp trên bề mặt lưng chuột.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Gia tăng các tổn thương oxy hoá tế bào và suy thoái mạng lưới collagen trung bì, tạo điều kiện thuận lợi để đánh giá hiệu lực của các chất chống oxy hoá và peptide bảo vệ da.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>2. Mô hình viêm da tiếp xúc và viêm da cơ địa\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Bề mặt da không lông của chuột HR-1 tạo điều kiện tối ưu để áp dụng các hoá chất gây kích ứng hoặc gây dị ứng miễn dịch mà không bị cản trở bởi hiện tượng đọng dung dịch trên lông. Khi bôi lặp lại các tác nhân mẫn cảm hoá học như phthalic anhydride lên da chuột HR-1, các biểu hiện tổn thương viêm da dạng viêm da cơ địa nhanh chóng được thiết lập (Park và cs., 2017). Mô hình này đặc trưng bởi sự thâm nhiễm của dưỡng bào, bạch cầu ái toan và tế bào lympho vào trung bì, đi kèm với sự giải phóng các cytokine tiền viêm như TNF-alpha và IL-6. Việc sử dụng chuột HR-1 giúp đo lường chính xác hiệu quả điều biến miễn dịch của các hợp chất kháng viêm tự nhiên hoặc hoạt chất dược dụng mới.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>3. Nghiên cứu hấp thu và phân phát thuốc qua da\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong ngành công nghệ bào chế dược phẩm và mỹ phẩm, việc xác định hệ số thấm và lượng hoạt chất tích luỹ qua da đóng vai trò quyết định trong việc phát triển các dạng thuốc dán, gel bôi ngoài da. Mô hình chuột HR-1 loại bỏ hoàn toàn sai số thực nghiệm phát sinh từ kỹ thuật cạo lông hay dùng kem tẩy lông. Các thao tác cơ học này trên chuột có lông thường gây xước vi thể, làm tổn thương lớp sừng và nhân tạo hoá mức độ hấp thu của hoạt chất thử nghiệm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Quy trình nhân giống và chăm sóc thí nghiệm\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Công tác duy trì đàn chuột HR-1 đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật di truyền và điều kiện môi trường sống chuyên biệt:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đặc điểm sinh sản và tiết sữa:\u003C\u002Fstrong> Khác với nhiều dòng chuột không lông khác thường bị khiếm khuyết tuyến vú, chuột cái đồng hợp tử Hos:HR-1 là ngoại lệ đặc biệt khi sở hữu tuyến vú phát triển và khả năng tiết sữa nuôi con bình thường (Suzuki và cs., 2013). Nhờ đặc điểm này, các cơ sở nhân giống có thể cho giao phối trực tiếp giữa chuột đực và chuột cái đồng hợp tử không lông để thu được toàn bộ đời con mang kiểu hình không lông đồng nhất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm soát nhiệt độ chuồng nuôi:\u003C\u002Fstrong> Do mất hoàn toàn lớp lông cách nhiệt, diện tích toả nhiệt của cơ thể tăng cao khiến chuột dễ bị hạ thân nhiệt. Nhiệt độ chuồng nuôi cần được duy trì ổn định trong khoảng ấm áp hơn so với chuột thông thường để tránh hiện tượng sốc nhiệt hoặc căng thẳng chuyển hoá kéo dài.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đạo đức nghiên cứu động vật:\u003C\u002Fstrong> Quá trình sử dụng chuột HR-1 trong nghiên cứu y sinh học tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc 3R bao gồm thay thế, giảm thiểu và cải tiến nhằm bảo đảm phúc lợi động vật và nâng cao độ tin cậy khoa học của kết quả thực nghiệm.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Giới hạn phương pháp luận và ranh giới ứng dụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù là mô hình động vật có giá trị học thuật cao, việc ngoại suy kết quả thực nghiệm từ chuột HR-1 sang sinh lý học da người cần được xem xét thận trọng dựa trên các ranh giới khoa học cụ thể:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khác biệt về cấu trúc giải phẫu:\u003C\u002Fstrong> Lớp biểu bì da chuột HR-1 mỏng hơn đáng kể so với da người, và sự xuất hiện của các nang biểu bì chứa chất sừng (utricles) ở chuột trưởng thành tạo nên các khoang rỗng không có cấu trúc tương đương trong da người bình thường.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cơ chế lão hoá quang hoá:\u003C\u002Fstrong> Mặc dù chuột HR-1 phát triển nếp nhăn sau chiếu xạ tia tử ngoại UVB, sự biến đổi này diễn ra trên nền tảng teo nang lông di truyền, khác với tiến trình lão hoá nội tại kết hợp quang hoá kéo dài nhiều thập kỷ ở làn da người.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Không áp dụng cho nghiên cứu ghép tế bào người:\u003C\u002Fstrong> Vì chuột HR-1 sở hữu hệ miễn dịch lympho T nguyên vẹn, mô hình này không thể sử dụng để cấy ghép khối u người hoặc tế bào gốc người do hiện tượng thải ghép cấp tính sẽ diễn ra nhanh chóng. Nghiên cứu ghép dị loài bắt buộc phải sử dụng các dòng suy giảm miễn dịch chuyên biệt như chuột khoả thân vô tuyến ức.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Chuột HR-1","HR-1 hairless mouse",[20,21],"Chuột không lông HR-1","Hos:HR-1","Chuột HR-1 là dòng chuột nhắt thí nghiệm mang đột biến gen hairless gây rụng lông tự phát, được sử dụng rộng rãi làm mô hình động vật trong nghiên cứu da liễu và dược lý.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[25,32,39,46],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":10},"Benavides, F., Oberyszyn, T. M., VanBuskirk, A. M., Reeve, V. E., & Kusewitt, D. F. (2009). The hairless mouse in skin research. Journal of Dermatological Science, 53(1), 10–18.","The hairless mouse in skin research","Benavides, Oberyszyn, VanBuskirk, Reeve, Kusewitt","Journal of Dermatological Science",2009,"10.1016\u002Fj.jdermsci.2008.08.012",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":10},"Suzuki, O., Koura, M., Noguchi, Y., Uchio-Yamada, K., & Matsuda, J. (2013). Zygosity determination in hairless mice by PCR based on Hr(hr) gene analysis. Experimental Animals, 62(3), 267–273.","Zygosity Determination in Hairless Mice by PCR Based on Hrhr Gene Analysis","Suzuki, Koura, Noguchi, Uchio-Yamada, Matsuda","Experimental Animals",2013,"10.1538\u002Fexpanim.62.267",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":10},"Park, J. H., Choi, J. Y., Son, D. J., Park, E. K., Song, M. J., Hellström, M., & Hong, J. T. (2017). Anti-inflammatory effect of titrated extract of Centella asiatica in phthalic anhydride-induced allergic dermatitis animal model. International Journal of Molecular Sciences, 18(4), 738.","Anti-Inflammatory Effect of Titrated Extract of Centella asiatica in Phthalic Anhydride-Induced Allergic Dermatitis Animal Model","Park, Choi, Son, Park, Song, Hellström, Hong","International Journal of Molecular Sciences",2017,"10.3390\u002Fijms18040738",{"citationText":47,"title":48,"authors":49,"source":50,"year":37,"doi":51,"url":10},"Fujii, T., Okuda, M., Yasui, M., Wakaizumi, M., Ikami, T., & Ikeda, T. (2013). Effects of amla extract and collagen peptide on UVB-induced photoaging in hairless mice. Journal of Functional Foods, 5(1), 451–459.","Effects of amla extract and collagen peptide on UVB-induced photoaging in hairless mice","Fujii, Okuda, Yasui, Wakaizumi, Ikami, Ikeda","Journal of Functional Foods","10.1016\u002Fj.jff.2012.11.018",[53,56,59,62],{"question":54,"answer":55},"Điểm khác biệt lớn nhất giữa chuột HR-1 và chuột khoả thân là gì?","Khác biệt căn bản là chuột HR-1 có tuyến ức bình thường và sở hữu hệ miễn dịch lympho T nguyên vẹn, trong khi chuột khoả thân bị khiếm khuyết tuyến ức bẩm sinh và suy giảm miễn dịch tế bào nghiêm trọng.",{"question":57,"answer":58},"Tại sao chuột HR-1 lại bị rụng lông sau khi sinh?","Kiểu hình rụng lông xuất phát từ đột biến lặn do chèn retrovirus vào intron 6 của gen Hr trên nhiễm sắc thể 14, làm bất hoạt protein HR và gián đoạn chu kỳ tăng trưởng của nang lông sau tuần tuổi thứ 2.",{"question":60,"answer":61},"Tại sao mô hình chuột HR-1 được ưu tiên trong nghiên cứu lão hoá da do ánh sáng?","Do bề mặt biểu bì hoàn toàn không có lông che phủ tự nhiên, chuột HR-1 cho phép chiếu xạ tia tử ngoại UVB trực tiếp và đồng đều lên da mà không cần cạo lông nhân tạo, tránh được phản ứng viêm do tổn thương cơ học.",{"question":63,"answer":64},"Khả năng sinh sản và nuôi con của chuột cái HR-1 có gì đặc biệt?","Khác với đa số các dòng chuột không lông khác thường bị khiếm khuyết tuyến vú, chuột cái Hos:HR-1 đồng hợp tử có khả năng tiết sữa và nuôi con hoàn toàn bình thường, cho phép nhân giống đồng hợp tử trực tiếp.",{"id":66,"researcherId":10,"name":67,"imageUrl":68},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":66,"researcherId":10,"name":67,"imageUrl":68},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.564+00:00","2026-09-22T10:20:19.915+00:00","2026-09-22T10:14:32.609+00:00",0,[78,87,93,98,104,109,115,121,126,131],{"id":79,"title":80,"term":79,"englishTitle":81,"definition":82,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":88,"title":89,"term":90,"englishTitle":91,"definition":92,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":94,"title":95,"term":94,"englishTitle":96,"definition":97,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":99,"title":100,"term":101,"englishTitle":102,"definition":103,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":110,"title":111,"term":112,"englishTitle":113,"definition":114,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":116,"title":117,"term":118,"englishTitle":119,"definition":120,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":122,"title":123,"term":122,"englishTitle":124,"definition":125,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":129,"definition":130,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi.",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":132,"definition":134,"discipline":23,"disciplineCode":83,"disciplineLabel":84,"disciplineColor":85,"disciplineIcon":86},"apexification","Apexification là gì? Kỹ thuật đóng chóp răng chưa hoàn thiện","Apexification (thủ thuật đóng chóp) là một phương pháp điều trị nội nha nhằm kích thích sự hình thành hàng rào khoáng hóa cứng (calcified barrier) hoặc đặt trực tiếp một nút chặn nhân tạo tại vùng cuống của răng vĩnh viễn chưa trưởng thành bị hoại tử tủy và mở rộng chóp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trám bít ống tủy kín khít hoàn toàn."]