[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_b%E1%BA%A5t%20b%C3%ACnh%20%C4%91%E1%BA%B3ng%20s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB%8Fe{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_bất bình đẳng sức khỏe":26},{"code":4,"data":5,"meta":17},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":24,"vietnamLatest":25},[],[8],{"publicationId":9,"title":10,"originalTitle":11,"authorNames":12,"authorCount":16,"journalName":17,"vietnamJournal":18,"publishDate":19,"publishYear":20,"totalCitation":17,"url":21,"doi":22,"summary":23},"00b7fc8c-1b07-42c3-a09e-66c9a0255048","Mô hình Chênh lệch Y tế và Kết quả ở Các quần thể bị Tước đoạt Quyền lợi","Modeling Health Disparities and Outcomes in Disenfranchised Populations",[13,14,15],"Emily J. Hauenstein","Rachael S. Clark","Elizabeth I. Merwin",3,null,false,"2018-08-22",2018,"https:\u002F\u002Flink.springer.com\u002Farticle\u002F10.1007\u002Fs10597-018-0326-9","10.1007\u002Fs10597-018-0326-9","\u003Cp>Khảo sát dịch tễ học xã hội phân tích mô hình chênh lệch y tế nhằm giải thích thực trạng \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">bất bình đẳng sức khỏe\u003C\u002Fb> ở các quần thể bị tước đoạt quyền lợi. Tác giả \u003Cb>làm rõ\u003C\u002Fb> những thách thức phức tạp trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc và bảo hiểm y tế. Luận điểm có giá trị định hướng chính sách an sinh dù số liệu khảo sát mang tính cục bộ.\u003C\u002Fp>",[],[],{"code":4,"data":27,"meta":17},{"id":28,"title":29,"description":30,"content":31,"term":28,"englishTitle":32,"synonyms":33,"definition":37,"discipline":38,"references":39,"faqs":61,"createUser":71,"publishUser":17,"keywords":75,"keywordCount":96,"enrichTopicLink":97,"status":98,"createTime":99,"updateTime":100,"publishTime":17,"linkEnrichedTime":101,"publicationScanTime":102,"contentErrorMessage":17,"viewCount":103,"relateTopics":104},"bất bình đẳng sức khỏe","Bất bình đẳng sức khỏe: Nguyên nhân xã hội, chỉ số đo lường và can thiệp","Bất bình đẳng sức khỏe phản ánh sự chênh lệch có hệ thống về cơ hội sống khỏe giữa các nhóm xã hội, đòi hỏi can thiệp chính sách toàn diện.","\u003Cp>Bất bình đẳng sức khỏe (health inequality) là sự khác biệt có hệ thống và có thể quan sát được trong tình trạng sức khỏe giữa các nhóm dân cư khác nhau, thường được phân loại theo các yếu tố như thu nhập, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, khu vực địa lý, giới tính, chủng tộc hoặc nhóm dân tộc. Những khác biệt này không chỉ phản ánh đặc điểm cá nhân mà còn thể hiện ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố cấu trúc và xã hội. Bất bình đẳng sức khỏe được xem là biểu hiện cụ thể của các bất bình đẳng xã hội rộng lớn hơn, nơi mà các nguồn lực y tế, điều kiện sống và cơ hội chăm sóc sức khỏe không được phân bổ công bằng. Ví dụ, sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường giữa các khu vực giàu và nghèo không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả từ sự tiếp cận khác nhau đến thực phẩm lành mạnh, chăm sóc y tế định kỳ và môi trường sống an toàn. Các tổ chức y tế như CDC và WHO xem bất bình đẳng sức khỏe là yếu tố ảnh hưởng then chốt đến hiệu quả của hệ thống y tế quốc gia và mức độ công bằng xã hội.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: CDC - What Is Health Equity?\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân biệt giữa bất bình đẳng và bất công sức khỏe\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong phân tích học thuật và chính sách công, cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm “bất bình đẳng sức khỏe” (health inequality) và “bất công sức khỏe” (health inequity). Bất bình đẳng là một mô tả thực nghiệm về sự chênh lệch có thể đo lường được trong các kết quả sức khỏe, ví dụ như tuổi thọ trung bình hoặc {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BB%B7%20l%E1%BB%87%20t%E1%BB%AD%20vong%22%7D}} trẻ sơ sinh giữa các khu vực hoặc nhóm xã hội. Ngược lại, bất công sức khỏe mang tính chuẩn tắc và hàm ý rằng những chênh lệch này là không công bằng, có thể phòng tránh được và là hệ quả của các điều kiện xã hội không công bằng. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa bất công sức khỏe là “những sự khác biệt không cần thiết, có thể tránh được, không công bằng và không hợp lý về mặt đạo đức.” Ví dụ, sự khác biệt trong tỷ lệ tử vong do ung thư giữa người da trắng và người da màu ở Mỹ không chỉ là bất bình đẳng mà còn là bất công nếu nguyên nhân xuất phát từ việc người da màu ít được tiếp cận với sàng lọc và điều trị sớm. Sự phân biệt này giúp các nhà hoạch định chính sách chuyển từ quan sát sang hành động, nhằm giải quyết nguồn gốc gốc rễ của bất công sức khỏe thay vì chỉ ghi nhận số liệu bề mặt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: WHO - Social Determinants of Health\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bất bình đẳng sức khỏe không thể hiểu đúng nếu không xét đến các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22y%E1%BA%BFu%20t%E1%BB%91%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%22%7D}} quyết định sức khỏe (Social Determinants of Health – SDoH). Đây là những điều kiện trong môi trường sống, làm việc, học tập và phát triển ảnh hưởng trực tiếp đến {{topic|%7B%22topic%22%3A%22s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB%8Fe%20th%E1%BB%83%20ch%E1%BA%A5t%22%7D}} và tinh thần của con người. Những yếu tố then chốt bao gồm: {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%C3%ACnh%20%C4%91%E1%BB%99%20gi%C3%A1o%20d%E1%BB%A5c%22%7D}}, tình trạng việc làm, thu nhập, chất lượng nhà ở, an toàn cộng đồng, hạ tầng giao thông, tiếp cận thực phẩm lành mạnh, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%E1%BA%A3%20n%C4%83ng%20ti%E1%BA%BFp%20c%E1%BA%ADn%22%7D}} và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22s%E1%BB%AD%20d%E1%BB%A5ng%20d%E1%BB%8Bch%20v%E1%BB%A5%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}}. Một người sống trong khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20s%E1%BB%9F%20h%E1%BA%A1%20t%E1%BA%A7ng%22%7D}} xuống cấp và ít dịch vụ y tế có khả năng mắc các bệnh mãn tính cao hơn người sống ở khu vực có điều kiện sống tốt hơn. Ngoài ra, các yếu tố mang tính hệ thống như kỳ thị, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20bi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%91i%20x%E1%BB%AD%22%7D}}, bất công giới tính hay phân tầng sắc tộc cũng tác động mạnh đến các cơ hội {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%C4%83m%20s%C3%B3c%20s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB%8Fe%22%7D}}. Mô hình “cây nguyên nhân” được sử dụng trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22y%20t%E1%BA%BF%20c%C3%B4ng%20c%E1%BB%99ng%22%7D}} mô tả rõ rằng yếu tố cá nhân chỉ là phần ngọn, trong khi gốc rễ nằm ở chính sách, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%22%7D}} và phân bổ nguồn lực. Các quốc gia có hệ thống giáo dục toàn dân, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%BAc%20l%E1%BB%A3i%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%22%7D}} mạnh và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%C3%ADnh%20s%C3%A1ch%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}} công bằng thường có mức độ bất bình đẳng sức khỏe thấp hơn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: HealthyPeople.gov - Social Determinants of Health\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ví dụ cụ thể về bất bình đẳng sức khỏe\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Những ví dụ thực tế về bất bình đẳng sức khỏe cho thấy đây là một vấn đề toàn cầu và có thể đo lường bằng dữ liệu cụ thể. Tại Mỹ, nghiên cứu của National Academies of Sciences chỉ ra rằng tuổi thọ trung bình của nhóm 1% thu nhập cao nhất cao hơn đến 14.6 năm so với nhóm 1% thu nhập thấp nhất. Ở Anh, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở vùng đông bắc cao hơn đáng kể so với vùng đông nam, tương ứng với chênh lệch về thu nhập và thất nghiệp. Tại Ấn Độ, phụ nữ ở vùng nông thôn có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nguy%20c%C6%A1%20t%E1%BB%AD%20vong%22%7D}} khi sinh cao gấp ba lần so với phụ nữ ở khu vực thành thị. Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có thể chênh lệch gấp 2–4 lần giữa các vùng miền hoặc dân tộc khác nhau. Ở Brazil, người da đen và da nâu có xác suất bị gián đoạn {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%81u%20tr%E1%BB%8B%20ung%20th%C6%B0%22%7D}} cao hơn do rào cản tài chính và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20bi%E1%BB%87t%20ch%E1%BB%A7ng%20t%E1%BB%99c%22%7D}} trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}}. Ngoài ra, đại dịch COVID-19 đã làm lộ rõ các lỗ hổng về bất bình đẳng sức khỏe toàn cầu, khi các cộng đồng thiểu số chịu ảnh hưởng nặng nề hơn về tỷ lệ tử vong và tiếp cận vaccine.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: The Commonwealth Fund - Health Disparities\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Ảnh hưởng của bất bình đẳng sức khỏe đến phát triển kinh tế\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bất bình đẳng sức khỏe không chỉ là vấn đề đạo đức hay nhân quyền mà còn là yếu tố cản trở sự {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20kinh%20t%E1%BA%BF%22%7D}} bền vững của quốc gia. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng sức khỏe kém gắn liền với giảm năng suất lao động, gia tăng tỷ lệ nghỉ việc dài hạn và giảm khả năng tham gia vào thị trường lao động. Một lực lượng lao động có sức khỏe không đồng đều sẽ dẫn đến chi phí y tế cao hơn, gánh nặng phúc lợi xã hội lớn hơn và giảm hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Tại châu Âu, WHO ước tính rằng bất bình đẳng sức khỏe dẫn đến tổn thất hàng tỷ euro mỗi năm do mất năng suất và chi phí điều trị các bệnh mãn tính gia tăng. Ở {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%A1c%20qu%E1%BB%91c%20gia%20%C4%91ang%20ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%22%7D}}, trẻ em bị suy dinh dưỡng hoặc thiếu chăm sóc y tế đầy đủ sẽ kém phát triển về thể chất và nhận thức, từ đó ảnh hưởng đến khả năng học tập, thu nhập tương lai và góp phần duy trì vòng xoáy đói nghèo qua nhiều thế hệ. Nghiên cứu tại Anh cho thấy nếu có thể thu hẹp khoảng cách về sức khỏe giữa nhóm giàu và nghèo, nền kinh tế có thể tiết kiệm hơn 5 tỷ bảng mỗi năm trong chi phí y tế công cộng và tăng trưởng GDP có thể được thúc đẩy đáng kể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: WHO Europe - Social Determinants and the Health Divide\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chính sách và can thiệp để giảm bất bình đẳng sức khỏe\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Giảm bất bình đẳng sức khỏe đòi hỏi sự can thiệp đa tầng, từ chính sách công, đầu tư xã hội đến thay đổi hệ thống y tế. Các chính sách hiệu quả thường bao gồm: mở rộng bảo hiểm y tế toàn dân, tăng cường dịch vụ y tế cơ bản tại vùng khó khăn, đầu tư vào giáo dục sớm, nâng cao chất lượng nhà ở, cải thiện hệ thống giao thông và tiếp cận thực phẩm dinh dưỡng. Tại Anh, “Marmot Review” (2010 và bản cập nhật năm 2020) đưa ra khuyến nghị chiến lược gồm sáu trụ cột: (1) đảm bảo khởi đầu cuộc sống công bằng cho trẻ em; (2) giáo dục chất lượng cho mọi người; (3) việc làm ổn định và thu nhập hợp lý; (4) điều kiện sống lành mạnh; (5) xây dựng cộng đồng bền vững; và (6) hệ thống y tế công bằng. Các quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển và Phần Lan đã triển khai thành công các chính sách y tế công bằng nhờ vào mô hình nhà nước phúc lợi toàn diện, tích hợp các bộ phận y tế, giáo dục và an sinh xã hội dưới cùng một chiến lược quốc gia. Ở cấp địa phương, các chương trình như “Health in All Policies” (HiAP) đã được sử dụng để đưa yếu tố sức khỏe vào trong tất cả các chính sách công – từ quy hoạch đô thị đến giáo dục và thuế.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: The Health Foundation - The Marmot Review\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đo lường và đánh giá bất bình đẳng sức khỏe\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đo lường bất bình đẳng sức khỏe là bước cần thiết để giám sát tình hình và định hướng can thiệp. Các chỉ số thường dùng bao gồm: tuổi thọ kỳ vọng, tỷ lệ tử vong sơ sinh, tỷ lệ tử vong do bệnh mãn tính, mức độ khuyết tật, tỷ lệ tiêm chủng và tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế. Để đo sự chênh lệch giữa các nhóm, các công cụ thống kê như \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Slope Index of Inequality (SII)\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Relative Index of Inequality (RII)\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Concentration Index (CI)\u003C\u002Fscript> được sử dụng để lượng hóa khoảng cách theo trục xã hội. SII đo sự khác biệt tuyệt đối giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất, còn RII đo sự khác biệt tương đối so với trung bình dân số. CI phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối kết quả sức khỏe trên toàn bộ thang phân tầng xã hội. Ngoài ra, các chỉ số tổng hợp như \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Health Equity Assessment Toolkit (HEAT)\u003C\u002Fscript> của WHO cung cấp nền tảng so sánh và phân tích dữ liệu quốc tế.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: WHO - Health Inequality Monitoring Indicators\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vai trò của công nghệ và dữ liệu trong giám sát bất bình đẳng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự phát triển của công nghệ dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo và các hệ thống quản lý y tế số hóa đã mở ra khả năng giám sát bất bình đẳng sức khỏe theo thời gian thực và trên diện rộng. Dữ liệu phân tầng theo độ tuổi, giới tính, thu nhập, khu vực địa lý, dân tộc giúp phát hiện các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và kém được phục vụ. Các công cụ như bản đồ hóa dịch tễ học, phân tích theo cụm và dự báo mô hình hóa (predictive analytics) đang được các tổ chức như WHO, CDC và Ngân hàng Thế giới sử dụng để thiết kế các chiến lược can thiệp mục tiêu. Hệ thống Global Health Observatory của WHO cung cấp kho dữ liệu mở cho hơn 190 quốc gia, cho phép so sánh các chỉ số bất bình đẳng sức khỏe toàn cầu. Các nền tảng như REDCap, DHIS2 và Tableau cũng đang được ứng dụng trong nghiên cứu y tế cộng đồng để {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BB%B1c%20quan%20h%C3%B3a%20d%E1%BB%AF%20li%E1%BB%87u%22%7D}} sức khỏe một cách minh bạch và có thể hành động.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tham khảo: WHO - Global Health Observatory\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Kết luận\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bất bình đẳng sức khỏe là kết quả của quá trình tích lũy bất lợi xã hội, kinh tế và chính trị kéo dài qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, mà còn làm suy yếu tiềm năng phát triển của quốc gia. Việc nhận diện rõ nguồn gốc, đo lường chính xác và thiết kế chính sách đa ngành là nền tảng để giải quyết bất bình đẳng một cách bền vững. Giảm bất bình đẳng sức khỏe không thể tách rời khỏi việc xây dựng một xã hội công bằng hơn, nơi mọi người có cơ hội như nhau để sống khỏe mạnh, độc lập và có phẩm giá.\u003C\u002Fp>","Health Inequality",[34,35,36],"chênh lệch sức khỏe","công bằng y tế","health disparities","Bất bình đẳng sức khỏe là sự khác biệt có hệ thống và có thể đo lường được về tình trạng sức khỏe, tuổi thọ và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm dân cư trong xã hội.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[40,47,54],{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":44,"year":45,"doi":46,"url":17},"Marmot, M. (2005). Social determinants of health inequalities. The Lancet, 365(9464), 1099-1104.","Social determinants of health inequalities","M. Marmot","The Lancet",2005,"10.1016\u002FS0140-6736(05)71146-6",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":17},"Braveman, P. (2006). Health disparities and health equity: concepts and measurement. Annual Review of Public Health, 27, 167-194.","Health Disparities and Health Equity: Concepts and Measurement","P. Braveman","Annual Review of Public Health",2006,"10.1146\u002Fannurev.publhealth.27.021405.102103",{"citationText":55,"title":56,"authors":57,"source":58,"year":59,"doi":60,"url":17},"Wagstaff, A., Paci, P., & van Doorslaer, E. (1991). On the measurement of inequalities in health. Social Science & Medicine, 33(5), 545-557.","On the measurement of inequalities in health","A. Wagstaff, P. Paci, E. van Doorslaer","Social Science & Medicine",1991,"10.1016\u002F0277-9536(91)90212-U",[62,65,68],{"question":63,"answer":64},"Bất bình đẳng sức khỏe (health inequality) khác gì so with bất công bằng sức khỏe (health inequity)?","Bất bình đẳng sức khỏe là sự khác biệt quan sát được về chỉ số sức khỏe giữa các nhóm người; trong khi bất công bằng sức khỏe là tập con của bất bình đẳng, chỉ những khác biệt mang tính bất công, có thể tránh được và bắt nguồn từ bất bình đẳng cơ cấu kinh tế xã hội.",{"question":66,"answer":67},"Các yếu tố quyết định sức khỏe xã hội (Social Determinants of Health - SDOH) gồm những gì?","SDOH bao gồm thu nhập, trình độ học vấn, điều kiện việc làm, môi trường sống, dinh dưỡng, khả năng tiếp cận nước sạch và mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế.",{"question":69,"answer":70},"Chỉ số tập trung (Concentration Index - CI) đo lường điều gì trong bất bình đẳng y tế?","Chỉ số CI đo lường mức độ tập trung của một biến số sức khỏe (như tử vong trẻ em hoặc sử dụng dịch vụ y tế) theo thứ bậc kinh tế xã hội; giá trị âm phản ánh gánh nặng bệnh tật tập trung ở người nghèo.",{"id":72,"researcherId":17,"name":73,"imageUrl":74},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[76,77,78,79,80,81,82,83,84,85,86,87,88,89,90,91,92,93,94,95],"tỷ lệ tử vong","yếu tố xã hội","sức khỏe thể chất","trình độ giáo dục","khả năng tiếp cận","sử dụng dịch vụ y tế","cơ sở hạ tầng","phân biệt đối xử","chăm sóc sức khỏe","y tế công cộng","cấu trúc xã hội","phúc lợi xã hội","chính sách y tế","nguy cơ tử vong","điều trị ung thư","phân biệt chủng tộc","hệ thống y tế","phát triển kinh tế","các quốc gia đang phát triển","trực quan hóa dữ liệu",20,true,"PUBLISHED","2025-05-03T04:33:36.404+00:00","2026-09-02T13:11:30.383+00:00","2026-09-02T13:11:30.051+00:00","2026-09-02T12:19:57.448+00:00",596,[105,108,111,114,117,120,123,126,129,132],{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"thời pháp thuộc","Thời pháp thuộc là gì? Các nghiên cứu khoa học về Thời pháp thuộc",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"thang điểm morisky 8","Thang điểm morisky 8 là gì? Các công bố khoa học về Thang điểm morisky 8",{"id":112,"title":113,"term":112,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"lối sống","Lối sống là gì? Các công bố khoa học về Lối sống",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"chiến tranh đặc biệt","Chiến tranh đặc biệt là gì? Các bài báo nghiên cứu liên quan",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"prevalence","Prevalence là gì? Các công bố khoa học về Prevalence",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"mô hình bệnh tật","Mô hình bệnh tật là gì? Các nghiên cứu về Mô hình bệnh tật",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"scopus","Scopus là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Scopus",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"cơ sở vật chất","Cơ sở vật chất là gì? Các công bố khoa học về Cơ sở vật chất",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":17,"definition":17,"discipline":17,"disciplineCode":17,"disciplineLabel":17,"disciplineColor":17,"disciplineIcon":17},"autonomy","Autonomy là gì? Các công bố khoa học về Autonomy",{"id":133,"title":134,"term":133,"englishTitle":133,"definition":135,"discipline":136,"disciplineCode":137,"disciplineLabel":138,"disciplineColor":139,"disciplineIcon":140},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom"]