[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_b%C3%A0i%20to%C3%A1n%20micz-kepler{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_bài toán micz-kepler":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":10,"definition":19,"discipline":20,"references":21,"faqs":43,"createUser":53,"publishUser":10,"keywords":57,"keywordCount":68,"enrichTopicLink":69,"status":70,"createTime":71,"updateTime":72,"publishTime":10,"linkEnrichedTime":73,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":74,"relateTopics":75},"bài toán micz-kepler","Bài toán micz-kepler là gì? Các công bố khoa học về Bài toán micz-kepler","Bài toán Micz-Kepler là một bài toán trong lĩnh vực cơ học thiên thể. Nó xuất phát từ mô hình Micz, được sử dụng để mô tả chuyển động của các hệ hành tinh quay ...","\u003Cp>\u003Cstrong>Bài toán MICZ-Kepler\u003C\u002Fstrong> (\u003Cem>MICZ-Kepler problem\u003C\u002Fem>) là một mô hình toán - vật lý kinh điển và lượng tử mở rộng từ bài toán Coulomb-Kepler hai vật truyền thống. Bài toán mô tả chuyển động của một hạt phi tương đối tính mang điện tích chuyển động trong trường thế Coulomb kết hợp với trường từ của một monopole từ Dirac (đơn cực từ) và một thế ly tâm điều chỉnh tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Lịch sử hình thành và nguồn gốc tên gọi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tên gọi \u003Cstrong>MICZ\u003C\u002Fstrong> là chữ viết tắt ghép từ tên của các nhà {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%E1%BA%ADt%20l%C3%BD%20l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%22%7D}} đã độc lập khám phá và công bố bài toán vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970: Daniel I. McIntosh và Alexander Cisneros (năm 1970, tạo nên tiền tố \u003Cstrong>MIC\u003C\u002Fstrong>), và Daniel Zwanziger (năm 1968, bổ sung chữ \u003Cstrong>Z\u003C\u002Fstrong>). Các công trình này tìm cách giải quyết câu hỏi liệu có tồn tại một hệ cơ học có tương tác từ trường mà vẫn bảo toàn đầy đủ tính siêu tích hợp (superintegrability) và bảo toàn một vectơ tương tự như vectơ Runge-Lenz của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nguy%C3%AAn%20t%E1%BB%AD%20hydro%22%7D}} hay không.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hệ phương trình chuyển động và thế năng hiệu dụng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Xét một hạt có khối lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">m\u003C\u002Fscript> và điện tích \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">e\u003C\u002Fscript> chuyển động trong trường của một monopole từ đặt tại gốc tọa độ với cường độ cực từ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript>. Từ trường do monopole từ sinh ra có dạng hình cầu đối xứng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\mathbf{B} = g \\frac{\\mathbf{r}}{r^3}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Thế năng tổng cộng của hệ MICZ-Kepler bao gồm thế Coulomb hút và thế ly tâm hiệu chỉnh phụ thuộc vào điện tích monopole:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">V(r) = -\\frac{\\kappa}{r} + \\frac{s^2}{2m r^2}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\kappa > 0\u003C\u002Fscript> là hằng số tương tác Coulomb, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s = \\frac{e g}{c}\u003C\u002Fscript> là tham số tương tác từ, bắt buộc phải thỏa mãn điều kiện lượng tử hóa Dirac:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">s = \\frac{n \\hbar}{2}, \\quad n \\in \\mathbb{Z}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Phương trình chuyển động Newton-Lorentz của hạt được xác định bởi:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">m \\frac{d^2\\mathbf{r}}{dt^2} = \\frac{e}{c} \\left(\\frac{d\\mathbf{r}}{dt} \\times \\mathbf{B}\\right) - \\nabla V(r)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tính đối xứng động lực học và các tích phân chuyển động\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Điểm độc đáo phi thường của bài toán MICZ-Kepler là sự tồn tại của hai đại lượng bảo toàn vectơ độc lập, khẳng định tính siêu tích hợp tối đa của hệ:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mômen động lượng điều chỉnh (Poincaré Angular Momentum)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Mômen động lượng thông thường không được bảo toàn do tác dụng của lực Lorentz từ monopole. Đại lượng bảo toàn thực sự là vectơ mômen động lượng toàn phần:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\mathbf{J} = \\mathbf{r} \\times m\\mathbf{v} - s \\frac{\\mathbf{r}}{r}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đại lượng này thỏa mãn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbf{J} \\cdot \\frac{\\mathbf{r}}{r} = -s\u003C\u002Fscript>, chứng tỏ rằng quỹ đạo của hạt luôn bị giới hạn chuyển động trên một mặt nón tròn xoay có đỉnh đặt tại gốc tọa độ và góc mở phụ thuộc vào \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Vectơ Runge-Lenz mở rộng\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Tương tự như bài toán Kepler thuần túy, bài toán MICZ-Kepler bảo toàn một vectơ Runge-Lenz mở rộng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbf{A}\u003C\u002Fscript>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\mathbf{A} = \\mathbf{v} \\times \\mathbf{J} + \\kappa \\frac{\\mathbf{r}}{r}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sự bảo toàn của vectơ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbf{A}\u003C\u002Fscript> (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d\\mathbf{A}\u002Fdt = 0\u003C\u002Fscript>) bảo đảm rằng quỹ đạo của hạt là một đường cong kín nằm trên mặt nón (đối với trạng thái năng lượng âm \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E \u003C 0\u003C\u002Fscript>), không bị tuế sai quỹ đạo.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phổ năng lượng trong cơ học lượng tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}, toán tử Hamilton của bài toán MICZ-Kepler có thể được giải chính xác bằng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20ph%C3%A1p%20%C4%91%E1%BA%A1i%20s%E1%BB%91%22%7D}} đối xứng Lie. Nhóm đối xứng động học của hệ là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(4)\u003C\u002Fscript> đối với các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BA%A1ng%20th%C3%A1i%20li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt%22%7D}} và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(3,1)\u003C\u002Fscript> đối với các trạng thái tán xạ liên tục.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc tính lượng tử\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Bài toán Kepler (Nguyên tử Hydro)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Bài toán MICZ-Kepler\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhóm đối xứng hình học\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(3)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(3)\u003C\u002Fscript> (quay quanh trục)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhóm đối xứng động lực học ẩn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(4)\u003C\u002Fscript> cho trạng thái liên kết\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SO(4)\u003C\u002Fscript> cho trạng thái liên kết\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mức năng lượng gián đoạn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_N\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_n = -\\frac{m \\kappa^2}{2 \\hbar^2 n^2}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_N = -\\frac{m \\kappa^2}{2 \\hbar^2 (N + |s| + 1)^2}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ suy biến mức năng lượng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n^2\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">(N + 2|s| + 1)^2\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Bài toán MICZ-Kepler giữ vai trò nền tảng trong vật lý toán hiện đại, lý thuyết trường chuẩn, cơ học hình học và lý thuyết biến đổi Kustaanheimo-Stiefel kết nối giữa dao động tử điều hòa bốn chiều và hệ Coulomb lượng tử.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch2>Mối liên hệ đối ngẫu Hurwitz và biến đổi Kustaanheimo-Stiefel (KS)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một trong những thành tựu toán học sâu sắc nhất của cơ học lượng tử là việc thiết lập mối liên hệ đẳng cấu giữa bài toán MICZ-Kepler ba chiều và dao động tử điều hòa lượng tử bốn chiều (4D Harmonic Oscillator). Nhờ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20t%E1%BB%8Da%20%C4%91%E1%BB%99%22%7D}} xoắn spinor Kustaanheimo-Stiefel (KS transformation), không gian cấu hình 3 chiều \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbb{R}^3 \\setminus \\{0\\}\u003C\u002Fscript> với sự hiện diện của trường monopole được nâng lên thành không gian 4 chiều \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbb{R}^4\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi áp dụng biến đổi KS kết hợp phép {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20th%E1%BB%9Di%20gian%22%7D}} giả định Sundman \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">dt = r\\, d\\tau\u003C\u002Fscript>, phương trình Schrodinger dừng của bài toán MICZ-Kepler chuyển đổi chính xác thành phương trình của một hệ 4 dao động tử điều hòa đẳng hướng độc lập có cùng tần số, chịu một liên kết pha phụ thuộc vào số lượng tử monopole \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s\u003C\u002Fscript>. Mối tương đương này giải thích một cách tự nhiên lý do tại sao các mức năng lượng của bài toán MICZ-Kepler lại có độ suy biến ngẫu nhiên cao và hoàn toàn giải được bằng phương pháp đại số giải tích chính xác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tán xạ lượng tử và pha Berry trong trường Monopole Dirac\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi một hạt mang điện tích tán xạ trong trường của một monopole từ, hàm sóng lượng tử thu được một pha hình học tô pô gọi là pha Berry (Berry phase). Khi hạt chuyển động quanh một đường cong kín \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C\u003C\u002Fscript> chắn một góc khối \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Omega\u003C\u002Fscript> nhìn từ vị trí của monopole, pha tô pô thu được có giá trị bằng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma(C) = -s \\Omega\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Pha hình học này không phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của hạt hay năng lượng của chùm tia, mà chỉ phụ thuộc thuần túy vào hình học không gian và cường độ cực từ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s\u003C\u002Fscript>. Trong giới hạn tán xạ năng lượng cao, tiết diện tán xạ vi phân của hệ MICZ-Kepler thể hiện sự kết hợp kỳ thú giữa tán xạ Coulomb truyền thống của Rutherford và hiện tượng giao thoa sóng lượng tử do trường từ xoáy của đơn cực từ gây ra.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng hiện đại trong vật liệu tô pô và pha lượng tử giả lập\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù đơn cực từ tự do trong tự nhiên (monopole từ cơ bản) chưa từng được quan sát thực nghiệm trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%E1%BA%ADt%20l%C3%BD%20h%E1%BA%A1t%20nh%C3%A2n%22%7D}} năng lượng cao, bài toán MICZ-Kepler và các khái niệm trường chuẩn liên quan lại tìm thấy môi trường ứng dụng thực nghiệm sống động trong vật lý chất rắn ngưng tụ:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Chất bán kim loại Weyl (Weyl semimetals)\u003C\u002Fstrong>: Các điểm nút Weyl trong cấu trúc dải năng lượng của các tinh thể này hoạt động như các monopole từ trong không gian xung lượng (k-space), phát ra từ trường Berry tương tự hệt như bài toán MICZ-Kepler, dẫn tới hiệu ứng Hall dị thường lượng tử.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ băng xoay (Spin Ice)\u003C\u002Fstrong>: Trong các tinh thể oxit đất hiếm pyrochlore (như Dy2Ti2O7 và Ho2Ti2O7), các giả hạt kích thích từ tính (quasiparticles) chuyển động và tương tác với nhau hoàn toàn tương đương với các monopole từ Dirac được kết nối bởi các chuỗi Dirac vật lý.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ nguyên tử lạnh siêu sạch (Ultracold atoms)\u003C\u002Fstrong>: Sử dụng kỹ thuật điều khiển laser quang học để tạo ra các trường chuẩn nhân tạo (synthetic gauge fields), các nhà vật lý có thể giả lập chính xác trường thế MICZ-Kepler trong các bẫy quang học vi mô để khảo sát các trạng thái lượng tử mới.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa của bài toán MICZ-Kepler trong lý thuyết dây và hấp dẫn lượng tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong các nghiên cứu vật lý lý thuyết tiên tiến của thế kỷ XXI, bài toán MICZ-Kepler được hồi sinh mạnh mẽ như một trường hợp đồ chơi (toy model) hoàn hảo để kiểm chứng các giả thuyết trong lý thuyết dây và không gian phi giao hoán (non-commutative geometry). Khi không gian bị lượng tử hóa ở thang độ dài Planck, các tọa độ không còn giao hoán lẫn nhau, làm xuất hiện các số hạng hiệu chỉnh từ trường giả lập có cấu trúc đồng dạng với thế monopole Dirac trong bài toán MICZ. Hơn nữa, việc nghiên cứu các quỹ đạo hạt trong không gian mêtric Taub-NUT (một nghiệm chính xác của phương trình trường Einstein trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22thuy%E1%BA%BFt%20t%C6%B0%C6%A1ng%20%C4%91%E1%BB%91i%20t%E1%BB%95ng%20qu%C3%A1t%22%7D}} mô tả lỗ đen có khối lượng từ tính) cho thấy chuyển động trắc địa của hạt ở khoảng cách xa tiệm cận chính xác về {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20tr%C3%ACnh%20chuy%E1%BB%83n%20%C4%91%E1%BB%99ng%22%7D}} của bài toán MICZ-Kepler.\u003C\u002Fp>\n","Bài toán MICZ-Kepler","MICZ-Kepler problem","Bài toán MICZ-Kepler là mô hình cơ học lượng tử và cổ điển mở rộng từ bài toán Coulomb-Kepler hai vật, mô tả chuyển động của một hạt mang điện trong trường thế Coulomb kết hợp với trường từ của một monopole từ Dirac (đơn cực từ) và thế ly tâm điều chỉnh.","NATURAL_SCIENCES",[22,29,36],{"citationText":23,"title":24,"authors":25,"source":26,"year":27,"doi":28,"url":10},"Cordani Bruno (2003). Kepler Problem with Magnetic Monopole. The Kepler Problem.","Kepler Problem with Magnetic Monopole","Cordani Bruno","The Kepler Problem",2003,"10.1007\u002F978-3-0348-8051-0_10",{"citationText":30,"title":31,"authors":32,"source":33,"year":34,"doi":35,"url":10},"Cariñena José F., Rañada Manuel F., Santander Mariano (2008). The Kepler Problem and the Laplace–Runge–Lenz Vector on Spaces of Constant Curvature and Arbitrary Signature. Qualitative Theory of Dynamical Systems.","The Kepler Problem and the Laplace–Runge–Lenz Vector on Spaces of Constant Curvature and Arbitrary Signature","Cariñena José F., Rañada Manuel F., Santander Mariano","Qualitative Theory of Dynamical Systems",2008,"10.1007\u002Fs12346-008-0004-3",{"citationText":37,"title":38,"authors":39,"source":40,"year":41,"doi":42,"url":10},"Jackiw R. (1980). Dynamical symmetry of the magnetic monopole. Annals of Physics.","Dynamical symmetry of the magnetic monopole","Jackiw R.","Annals of Physics",1980,"10.1016\u002F0003-4916(80)90295-x",[44,47,50],{"question":45,"answer":46},"Bài toán MICZ-Kepler được đề xuất bởi những nhà vật lý nào và viết tắt của những tên ai?","Bài toán được khám phá độc lập vào cuối những năm 1960 và đầu 1970 bởi Daniel McIntosh, Alexander Cisneros (tạo nên tên MIC) và H. A. Zwanziger (thêm chữ Z), hình thành nên tên gọi MICZ-Kepler.",{"question":48,"answer":49},"Vectơ Runge-Lenz mở rộng đóng vai trò gì trong việc bảo toàn tính đối xứng động học của bài toán MICZ-Kepler?","Tương tự bài toán Kepler nguyên tử hydro cổ điển, hệ MICZ-Kepler sở hữu một vectơ Runge-Lenz điều chỉnh được bảo toàn trong trường từ monopole, giúp nhóm đối xứng động lực học của hệ mở rộng thành SO(4) đối với trạng thái liên kết (năng lượng âm) và SO(3,1) đối với trạng thái tán xạ (năng lượng dương).",{"question":51,"answer":52},"Ý nghĩa của điều kiện lượng tử hóa Dirac đối với điện tích monopole từ trong bài toán này là gì?","Để hàm sóng lượng tử của hạt mang điện trong trường thế vectơ thế Dirac có tính đơn trị và không phụ thuộc vào chuỗi kỳ dị (Dirac string), tích của điện tích hạt và điện tích monopole từ phải là một bán nguyên nhân với hằng số Planck rút gọn eg\u002Fc = n*hbar\u002F2.",{"id":54,"researcherId":10,"name":55,"imageUrl":56},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[58,59,60,61,62,63,64,65,66,67],"vật lý lý thuyết","nguyên tử hydro","cơ học lượng tử","phương pháp đại số","trạng thái liên kết","biến đổi tọa độ","biến đổi thời gian","vật lý hạt nhân","thuyết tương đối tổng quát","phương trình chuyển động",10,true,"PUBLISHED","2023-08-15T12:55:40.298+00:00","2026-09-12T06:09:24.397+00:00","2026-09-12T06:09:24.078+00:00",247,[76,79,82,84,92,95,98,101,103,106],{"id":77,"title":78,"term":77,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tán xạ","Tán xạ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tán xạ",{"id":80,"title":81,"term":80,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydroxy","Hydroxy là gì? Các công bố khoa học về Hydroxy",{"id":59,"title":83,"term":59,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"Nguyên tử hydro là gì? Các công bố khoa học về Nguyên tử hydro",{"id":85,"title":86,"term":85,"englishTitle":85,"definition":87,"discipline":20,"disciplineCode":88,"disciplineLabel":89,"disciplineColor":90,"disciplineIcon":91},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"dẫn xuất","Dẫn xuất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Dẫn xuất",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương trình schrödinger","Phương trình schrödinger là gì? Các công bố khoa học về schrödinger",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lý thuyết lượng tử","Lý thuyết lượng tử là gì? Các nghiên cứu khoa học ",{"id":67,"title":102,"term":67,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"Phương trình chuyển động là gì? Các bài nghiên cứu khoa học",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydrogen","Hydrogen là gì? Các công bố khoa học về Hydrogen",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mâu thuẫn","Mâu thuẫn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan"]