[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_%E1%BB%A9ng%20su%E1%BA%A5t%20t%C3%A1ch%20r%E1%BB%9Di{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_%E1%BB%A9ng%20su%E1%BA%A5t%20t%C3%A1ch%20r%E1%BB%9Di":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":19,"discipline":20,"references":21,"faqs":46,"createUser":56,"publishUser":60,"keywords":61,"keywordCount":57,"enrichTopicLink":62,"status":63,"createTime":64,"updateTime":65,"publishTime":66,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":67,"wikidataId":10,"relateTopics":68},"ứng suất tách rời","Ứng suất tách rời (detachment stress) là gì?","Ứng suất tách rời (detachment stress) là ứng suất kéo giới hạn cần thiết để bứt tách hoàn toàn hai bề mặt bám dính trong cơ học tiếp xúc và vật liệu.","\u003Cp>\u003Cstrong>Ứng suất tách rời\u003C\u002Fstrong> (tiếng Anh: \u003Cem>detachment stress\u003C\u002Fem>, hay \u003Cem>pull-off stress\u003C\u002Fem>) là giá trị ứng suất kéo giới hạn tác dụng vuông góc lên mặt tiếp xúc cần thiết để bứt tách hoàn toàn hai bề mặt dính kết đàn hồi hoặc nhớt đàn hồi trong cơ học tiếp xúc và bám dính. Đại lượng này phản ánh cường độ bám dính vĩ mô giữa hai vật thể rắn, được xác định thông qua tương tác giữa lực hút phân tử bề mặt và năng lượng biến dạng đàn hồi tích lũy tại vùng tiếp xúc.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất vật lý và cơ chế bám dính tiếp xúc\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong cơ học vật rắn biến dạng cổ điển của Heinrich Hertz, tương tác tiếp xúc giữa các vật thể đàn hồi chỉ xét đến lực đẩy đàn hồi mà bỏ qua hoàn toàn các lực hút bề mặt. Tuy nhiên, khi hai vật thể có bề mặt nhẵn tiếp xúc ở quy mô vi mô hoặc nano, hoặc khi vật liệu có độ mềm cao (như cao su, polymer sinh học, màng tế bào), các lực hút tầm ngắn như lực van der Waals, lực liên kết hydro và lực tĩnh điện trở nên đáng kể. Các lực hút liên bề mặt này kéo hai bề mặt lại gần nhau, làm tăng diện tích tiếp xúc thực tế ngay cả khi không có tải trọng nén bên ngoài.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi một lực kéo được đặt vào hệ nhằm kéo rời hai vật thể, vùng tiếp xúc không bị phá hủy tức thời trên toàn bộ bề mặt. Thay vào đó, một ứng suất kéo cục bộ tập trung cao độ tại chu vi mép tiếp xúc, đóng vai trò như một đỉnh vết nứt vòng tròn khép kín. Quá trình tách rời diễn ra tương tự như sự lan truyền của một vết nứt bứt phá (Mode I crack propagation) trong cơ học phá hủy đàn hồi tuyến tính. Hiện tượng bứt tách hoàn toàn xảy ra tại một giá trị tải trọng kéo tới hạn, tại đó tốc độ giải phóng năng lượng biến dạng đàn hồi vượt qua năng lượng bám dính bề mặt, dẫn đến trạng thái mất ổn định cơ học đột ngột.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các mô hình tiếp xúc bám dính kinh điển\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để lượng hóa lực bứt tách và ứng suất tách rời, các nhà cơ học đã phát triển những khung lý thuyết dựa trên sự cân bằng giữa năng lượng bề mặt và cơ học đàn hồi.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mô hình Johnson–Kendall–Roberts (JKR)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Năm 1971, Johnson, Kendall và Roberts công bố mô hình JKR xác lập phương trình tính toán kích thước vùng tiếp xúc và lực bám dính giữa các mặt cầu đàn hồi có xét đến năng lượng bề mặt. Mô hình JKR giả định rằng các lực hút bám dính chỉ tác dụng thuần túy bên trong diện tích tiếp xúc hình tròn, tạo nên một điểm kỳ dị ứng suất kéo vô hạn ở mép tiếp xúc giống như đỉnh vết nứt trong cơ học phá hủy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo lý thuyết JKR, lực kéo bứt tách tới hạn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">F_c\u003C\u002Fscript> cần thiết để tách rời hoàn toàn một quả cầu đàn hồi có bán kính tương đương \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">R\u003C\u002Fscript> khỏi một mặt phẳng cứng được xác định bởi công thức:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">F_c = \\frac{3}{2}\\pi R w\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">w\u003C\u002Fscript> biểu thị năng lượng bám dính bề mặt (work of adhesion, tương ứng với tổng năng lượng bề mặt tự do của hai vật thể trừ đi năng lượng mặt phân cách). Đáng chú ý, lực bứt tách trong mô hình JKR hoàn toàn độc lập với mô đun đàn hồi của vật liệu. Ứng suất tách rời danh nghĩa được tính bằng lực bứt tách chia cho diện tích tiếp xúc tại thời điểm mất ổn định.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mô hình Derjaguin–Muller–Toporov (DMT)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Khác với tiếp cận của mô hình JKR, lý thuyết DMT do Derjaguin, Muller và Toporov thiết lập xem xét lực hút phân tử tác dụng bên ngoài vùng tiếp xúc thực tế, trong khi biên dạng biến dạng hình học của vật thể tiếp xúc vẫn tuân theo phân bố Hertz cổ điển mà không có điểm kỳ dị ứng suất ở mép viền. Lực bứt tách tới hạn trong mô hình DMT được biểu diễn bởi:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">F_c = 2\\pi R w\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Mô hình DMT phù hợp cho các hệ vật liệu cứng có mô đun đàn hồi cao, bán kính tiếp xúc nhỏ và lực hút bề mặt có tầm tác dụng tương đối dài.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mô hình thống nhất Maugis–Dugdale\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Năm 1992, Daniel Maugis sử dụng mô hình vùng dính kết Dugdale để thống nhất sự chuyển tiếp liên tục giữa mô hình JKR và mô hình DMT trong tiếp xúc mặt cầu đàn hồi. Thay vì xem lực hút tác dụng vô hạn tại biên hoặc thuần túy ngoài biên, Maugis mô hình hóa lực bám dính như một ứng suất kéo không đổi tác dụng trong một dải hẹp bao quanh diện tích tiếp xúc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sự chuyển tiếp giữa hai trạng thái giới hạn được chi phối bởi tham số vô thứ nguyên Tabor (hay tham số Maugis) \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda\u003C\u002Fscript>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\lambda \\propto \\left(\\frac{R w^2}{E^{*2} z_0^3}\\right)^{1\u002F3}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E^*\u003C\u002Fscript> là mô đun đàn hồi hữu hiệu của hệ tiếp xúc và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z_0\u003C\u002Fscript> là khoảng cách cân bằng giữa các nguyên tử bề mặt. Khi tham số này rất lớn, hệ hành xử hoàn toàn theo cơ chế JKR; ngược lại khi tham số tiến về không, hệ tiệm cận về mô hình DMT.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n    \u003Cthead>\n        \u003Ctr>\n            \u003Cth>Đặc trưng so sánh\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Mô hình JKR\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Mô hình DMT\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Mô hình Maugis–Dugdale\u003C\u002Fth>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Fthead>\n    \u003Ctbody>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>\u003Cstrong>Vùng tác dụng của lực hút\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Thuần túy bên trong diện tích tiếp xúc\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Thuần túy bên ngoài diện tích tiếp xúc\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Vùng dính kết mở rộng bao quanh mép tiếp xúc\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>\u003Cstrong>Lực bứt tách tới hạn\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Ba phần hai nhân pi nhân bán kính nhân năng lượng dính\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Hai nhân pi nhân bán kính nhân năng lượng dính\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Biến thiên liên tục giữa hai giới hạn theo tham số Tabor\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>\u003Cstrong>Đặc tính vật liệu áp dụng\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Vật liệu mềm, độ đàn hồi cao, bán kính lớn, lực hút mạnh\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Vật liệu cứng, bán kính tiếp xúc nhỏ, năng lượng dính thấp\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Áp dụng phổ quát cho toàn bộ dải vật liệu trung gian\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>\u003Cstrong>Điểm kỳ dị ứng suất\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Xuất hiện điểm kỳ dị kéo vô hạn tại mép\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Không có điểm kỳ dị, ứng suất nén Hertz\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Ứng suất kéo hữu hạn trong dải dính kết Dugdale\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý phân tách tiếp xúc và ứng dụng phỏng sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một trong những bước tiến quan trọng nhất của cơ học tiếp xúc hiện đại là việc giải thích khả năng bám dính phi thường của các loài sinh vật trong tự nhiên thông qua khái niệm ứng suất tách rời.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Năm 2003, Arzt và cộng sự chứng minh nguyên lý phân tách tiếp xúc rằng việc chia nhỏ diện tích tiếp xúc thành nhiều điểm tiếp xúc mịn hơn làm gia tăng đáng kể lực bám dính tổng thể. Trong thế giới sinh vật, các loài bò sát và côn trùng như tắc kè, nhện và bọ cánh cứng sở hữu hệ thống giác bám phức tạp gồm hàng triệu sợi lông nhỏ (setae và spatulae) có kích thước từ micro đến nanomet.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo cơ học tiếp xúc bám dính JKR, lực bứt tách của một tiếp xúc đơn lẻ tỷ lệ tuyến tính với kích thước tiếp xúc, trong khi diện tích tiếp xúc lại tỷ lệ với bình phương kích thước. Khi một diện tích tiếp xúc tổng thể được chia thành nhiều vi tiếp xúc độc lập, tổng chu vi đường tiếp xúc tăng lên đáng kể, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của ứng suất tách rời vĩ mô tương đương. Cơ chế này giải thích tại sao bàn chân tắc kè có thể tạo ra lực bám dính khổng lồ trên các bề mặt thẳng đứng mà vẫn có thể bóc tách dễ dàng chỉ bằng cách thay đổi góc kéo tiếp xúc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nguyên lý phân tách tiếp xúc đã mở ra hướng nghiên cứu chế tạo các vật liệu bám dính khô phỏng sinh học (gecko-inspired dry adhesives). Các cấu trúc mảng sợi vi mô nhân tạo làm từ polydimethylsiloxane (PDMS) hoặc ống nano carbon có khả năng tái tạo ứng suất tách rời cao, cho phép gắn kết các bề mặt trong môi trường chân không hoặc không gian vũ trụ mà không cần sử dụng chất keo hóa học ướt truyền thống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại, ứng suất tách rời là chỉ số cốt lõi để đánh giá độ tin cậy cơ học của các kết cấu nhiều lớp:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Công nghệ bán dẫn và vi điện tử:\u003C\u002Fstrong> Trong quá trình sản xuất mạch tích hợp và đóng gói chip, các lớp màng mỏng kim loại và điện môi thường xuyên chịu ứng suất nhiệt do sự chênh lệch hệ số giãn nở nhiệt. Việc kiểm soát ứng suất tách rời giữa màng mỏng và đế bán dẫn là yếu tố quyết định ngăn ngừa hiện tượng bong tróc màng (delamination) và hư hỏng linh kiện.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Vật liệu composite đa lớp:\u003C\u002Fstrong> Trong cấu trúc composite sợi carbon dùng cho hàng không vũ trụ, ứng suất tách rời giữa các lớp laminate quy định độ bền chống tách lớp khi chịu tải trọng va đập hoặc mỏi cơ học chu kỳ.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Lớp phủ bảo vệ bề mặt:\u003C\u002Fstrong> Độ bền dính của các lớp phủ chống ăn mòn, lớp phủ gốm cách nhiệt trên cánh tuabin khí phụ thuộc trực tiếp vào ứng suất tách rời tới hạn tại mặt phân cách giữa lớp phủ và kim loại nền.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Những vấn đề học thuật và thách thức nghiên cứu còn mở\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù các mô hình giải tích cổ điển đã đặt nền móng vững chắc cho cơ học tiếp xúc bám dính, việc dự đoán chính xác ứng suất tách rời trong các điều kiện thực tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thách thức hàng đầu là ảnh hưởng của độ nhám bề mặt đa quy mô. Hầu hết các bề mặt kỹ thuật đều có độ nhám ngẫu nhiên dạng fractal. Các đỉnh nhấp nhô tế vi có thể làm giảm mạnh diện tích tiếp xúc thực tế và tạo ra các ứng suất kéo cục bộ phân tán, khiến ứng suất tách rời thực tế thường thấp hơn nhiều so với dự báo lý thuyết của các bề mặt phẳng lý tưởng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thêm vào đó, tính chất nhớt đàn hồi của vật liệu polymer và ảnh hưởng của tốc độ bóc tách (loading rate dependence) dẫn đến sự tiêu tán năng lượng nội tại trong vật liệu. Khi tốc độ kéo tăng lên, ứng suất tách rời có xu hướng tăng mạnh do các hiệu ứng hồi phục nhớt, đòi hỏi các khung mô phỏng phần tử hữu hạn phi tuyến tính và lý thuyết dính kết nhớt đàn hồi phức tạp hơn để mô tả chính xác phản ứng cơ học của hệ thống.\u003C\u002Fp>\n","detachment stress",[],"Ứng suất tách rời (tiếng Anh: detachment stress, hay pull-off stress) là giá trị ứng suất kéo giới hạn tác dụng vuông góc lên mặt tiếp xúc cần thiết để bứt tách hoàn toàn hai bề mặt dính kết đàn hồi hoặc nhớt đàn hồi trong cơ học tiếp xúc và bám dính.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[22,30,38],{"citationText":23,"title":24,"authors":25,"source":26,"year":27,"doi":28,"url":29},"Johnson, K. L., Kendall, K., & Roberts, A. D. (1971). Surface energy and the contact of elastic solids. Proceedings of the Royal Society of London. Series A. Mathematical and Physical Sciences, 324(1558), 301–313.","Surface energy and the contact of elastic solids","Johnson, Kendall, Roberts","Proceedings of the Royal Society of London. Series A. Mathematical and Physical Sciences",1971,"10.1098\u002Frspa.1971.0141","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1098\u002Frspa.1971.0141",{"citationText":31,"title":32,"authors":33,"source":34,"year":35,"doi":36,"url":37},"Maugis, D. (1992). Adhesion of spheres: The JKR-DMT transition using a Dugdale model. Journal of Colloid and Interface Science, 150(1), 243–269.","Adhesion of spheres: The JKR-DMT transition using a Dugdale model","Maugis","Journal of Colloid and Interface Science",1992,"10.1016\u002F0021-9797(92)90285-t","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0021-9797(92)90285-t",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":42,"year":43,"doi":44,"url":45},"Arzt, E., Gorb, S., & Spolenak, R. (2003). From micro to nano contacts in biological attachment devices. Proceedings of the National Academy of Sciences, 100(19), 10603–10606.","From micro to nano contacts in biological attachment devices","Arzt, Gorb, Spolenak","Proceedings of the National Academy of Sciences",2003,"10.1073\u002Fpnas.1534701100","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1073\u002Fpnas.1534701100",[47,50,53],{"question":48,"answer":49},"Ứng suất tách rời khác với độ bền kéo của vật liệu như thế nào?","Độ bền kéo là giới hạn ứng suất phá hủy liên kết khối bên trong một vật liệu đồng nhất, trong khi ứng suất tách rời là đại lượng đặc trưng cho sự phá hủy liên kết bám dính tại mặt phân cách giữa hai bề mặt vật thể tiếp xúc riêng biệt.",{"question":51,"answer":52},"Mô hình JKR và mô hình DMT khác nhau cơ bản ở điểm nào?","Mô hình JKR giả định lực bám dính chỉ tác dụng thuần túy bên trong diện tích tiếp xúc và phù hợp cho vật liệu mềm, trong khi mô hình DMT tính đến lực hút phân tử bên ngoài vùng tiếp xúc và phù hợp cho vật liệu cứng có độ biến dạng nhỏ.",{"question":54,"answer":55},"Nguyên lý phân tách tiếp xúc giúp tăng lực bám dính như thế nào?","Khi chia nhỏ một diện tích tiếp xúc thành nhiều điểm tiếp xúc vi mô độc lập, tổng chu vi đường tiếp xúc tăng lên đáng kể, làm tăng hiệu quả tiêu tán năng lượng bứt tách và nâng cao ứng suất tách rời vĩ mô tương đương theo cơ chế phỏng sinh học.",{"id":57,"researcherId":10,"name":58,"imageUrl":59},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":57,"researcherId":10,"name":58,"imageUrl":59},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:02.493+00:00","2026-10-12T22:37:09.376+00:00","2026-10-12T22:37:09.357+00:00",0,[69,79,84,89,94,99,104,109,114,119],{"id":70,"title":71,"term":72,"englishTitle":73,"definition":74,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":80,"title":81,"term":80,"englishTitle":82,"definition":83,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":85,"title":86,"term":85,"englishTitle":87,"definition":88,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":92,"definition":93,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":97,"definition":98,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":102,"definition":103,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"trao đổi nhiệt","Trao đổi nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","heat transfer","Trao đổi nhiệt là quá trình truyền năng lượng nhiệt giữa các vật thể hoặc hệ thống vật lý có sự chênh lệch nhiệt độ qua ba cơ chế dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ cho đến khi đạt trạng thái cân bằng nhiệt.",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":117,"definition":118,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":20,"disciplineCode":75,"disciplineLabel":76,"disciplineColor":77,"disciplineIcon":78},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]