[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_%E1%BA%A3nh%20%C4%91i%E1%BB%87n%202d{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ảnh điện 2d":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":10,"definition":18,"discipline":19,"references":20,"faqs":42,"createUser":52,"publishUser":10,"keywords":56,"keywordCount":67,"enrichTopicLink":68,"status":69,"createTime":70,"updateTime":71,"publishTime":10,"linkEnrichedTime":72,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":73,"relateTopics":74},"ảnh điện 2d","Ảnh điện 2d là gì? Khái niệm, cơ chế và ứng dụng","phương pháp thăm dò địa vật lý điện trở biểu kiến đa cực đa kênh, cho phép khảo sát và tái tạo mặt cắt không gian hai chiều về sự phân bố điện trở suất...","\u003Cp>\u003Cstrong>Ảnh điện 2D\u003C\u002Fstrong> (\u003Cem>2D electrical resistivity tomography (2D ERT)\u003C\u002Fem>) là phương pháp thăm dò địa vật lý điện trở biểu kiến đa cực đa kênh, cho phép khảo sát và tái tạo mặt cắt không gian hai chiều về sự phân bố điện trở suất thực của môi trường địa chất dưới lòng đất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý Vật lý và Phương trình Điện trở Biểu kiến\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Phương pháp ảnh điện 2D (hay còn gọi là phương pháp mặt cắt điện trở đa cực - Electrical Resistivity Tomography) dựa trên nguyên lý cơ bản rằng các loại đất đá, khoáng vật và chất lưu trong môi trường địa chất sở hữu {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%87n%20tr%E1%BB%9F%20su%E1%BA%A5t%22%7D}} riêng (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\rho\u003C\u002Fscript>) rất khác nhau. Để đo lường sự phân bố này, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22d%C3%B2ng%20%C4%91i%E1%BB%87n%20m%E1%BB%99t%20chi%E1%BB%81u%22%7D}} hoặc xoay chiều tần số rất thấp (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">I\u003C\u002Fscript>) được truyền cưỡng bức vào {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%20%C4%91%E1%BA%A5t%22%7D}} thông qua hai điện cực phát dòng (ký hiệu là A và B), trong khi hiệu điện thế phát sinh (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta V\u003C\u002Fscript>) được đo đạc chính xác qua hai điện cực đo thế (ký hiệu là M và N).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Điện trở suất biểu kiến (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\rho_a\u003C\u002Fscript>, đơn vị \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Omega\\cdot\text{m}\u003C\u002Fscript>) được xác định thông qua định luật Ohm tổng quát kết hợp với hệ số hình học mảng điện cực (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">K\u003C\u002Fscript>):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\rho_a = K \frac{\\Delta V}{I}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó hệ số hình học \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">K\u003C\u002Fscript> phụ thuộc hoàn toàn vào khoảng cách không gian tương đối giữa bốn điện cực A, B, M, N theo công thức:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">K = \frac{2\\pi}{\frac{1}{AM} - \frac{1}{BM} - \frac{1}{AN} + \frac{1}{BN}}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các Cấu hình Mảng Điện cực Chuẩn (Electrode Arrays)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tùy thuộc vào mục tiêu khảo sát địa chất (cần độ sâu dò tìm lớn, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99%20ph%C3%A2n%20gi%E1%BA%A3i%22%7D}} nằm ngang cao, hay tỷ số tín hiệu trên nhiễu tối ưu), người kỹ sư {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%8Ba%20v%E1%BA%ADt%20l%C3%BD%22%7D}} lựa chọn cấu hình mảng điện cực phù hợp:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Tên Cấu hình Mảng\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Sơ đồ Vị trí Điện cực\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Ưu điểm Nổi bật\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Hạn chế Kỹ thuật\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Ứng dụng Phù hợp nhất\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Mảng Wenner\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>A - M - N - B (khoảng cách AM = MN = NB = a)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tỷ số tín hiệu\u002Fnhiễu (S\u002FN) rất cao, nhạy nhất với ranh giới phân lớp nằm ngang.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Độ phân giải theo phương ngang kém, lượng dữ liệu thu thập ít hơn.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Khảo sát cấu trúc địa tầng nằm ngang, mực nước ngầm nông.\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Mảng Dipole-Dipole\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>A - B ... M - N (khoảng cách AB = a, MN = a, BM = n*a)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Độ phân giải ngang cực kỳ sắc nét, lập bản đồ khe nứt thẳng đứng rất tốt.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tín hiệu điện áp suy giảm rất nhanh theo khoảng cách n (dễ bị nhiễu).\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Phát hiện hang caster, đới đứt gãy kiến tạo, đường ống ngầm.\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Mảng Wenner-Schlumberger\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>A - M - N - B (MN = a, khoảng cách AM = NB = n*a)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dung hòa tối ưu giữa độ sâu nghiên cứu và độ phân giải phân lớp ngang\u002Fđứng.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Số lượng phép đo lớn, thời gian đo đạc trung bình.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Khảo sát địa chất công trình tổng quát và địa chất thủy văn.\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Mảng Cực - Cực (Pole-Pole)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>A - M (hai cực vô cực B và N đặt ở khoảng cách rất xa)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Độ sâu thâm nhập lớn nhất với chiều dài tuyến đo cho trước.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dễ bị nhiễu do đường dây dài dẫn đến điện cực xa; độ phân giải thấp.\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Thăm dò địa chất sâu quy mô lớn, địa nhiệt.\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Quy trình Thu thập Dữ liệu Thực địa\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một hệ thống đo ảnh điện 2D hiện đại bao gồm máy chủ đo điện trở tự động tích hợp nguồn phát dòng công suất lớn (thường từ 100 đến 1000 W), hệ thống chuyển mạch điện tử đa kênh (multiplexer) và các cuộn cáp chuyên dụng gắn từ 48 đến 96 điện cực thép không gỉ hoặc đồng cắm thẳng vào đất theo một tuyến thẳng xác định. Quy trình đo đạc diễn ra tự động hoàn toàn:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm tra {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%87n%20tr%E1%BB%9F%20ti%E1%BA%BFp%20x%C3%BAc%22%7D}}:\u003C\u002Fstrong> Trước khi phát dòng, thiết bị tự động kiểm tra điện trở tiếp xúc giữa từng điện cực và môi trường đất (đảm bảo điện trở tiếp xúc &lt; 2–5 \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\text{k}\\Omega\u003C\u002Fscript>; nếu đất khô, tưới nước muối pha loãng để giảm trở kháng).\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Quét đa tầng tự động:\u003C\u002Fstrong> Máy chủ kích hoạt chuyển mạch tuần tự, thay đổi vị trí các cặp điện cực A, B, M, N để tạo ra hàng nghìn điểm đo điện trở suất biểu kiến ở các mức độ thâm nhập độ sâu khác nhau (gọi là mặt cắt giả - pseudosection).\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiệu chỉnh địa hình:\u003C\u002Fstrong> Sử dụng máy thủy bình hoặc định vị GPS RTK độ chính xác cao để đo tọa độ và cao độ thực tế của từng cọc điện cực, cung cấp dữ liệu biên cho quá trình nghịch đảo.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\n\u003Ch2>Thuật toán Nghịch đảo Dữ liệu Địa vật lý (Inversion)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặt cắt giả điện trở suất biểu kiến thu được tại thực địa không phản ánh trực tiếp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20h%C3%ACnh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} và điện trở suất thực tế của các lớp đất đá ngầm. Do đó, dữ liệu bắt buộc phải trải qua quá trình nghịch đảo số học phi tuyến (Non-linear Inversion):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Phương pháp phổ biến nhất là thuật toán bình phương tối thiểu có làm mịn (Smoothness-Constrained Least-Squares Inversion \u002F Occam's Inversion), giải {{topic|%7B%22topic%22%3A%22b%C3%A0i%20to%C3%A1n%20t%E1%BB%91i%20%C6%B0u%22%7D}} hóa:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">(J^T J + \\lambda F) \\Delta m = J^T g - \\lambda F m\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">J\u003C\u002Fscript> là ma trận Jacobian chứa các đạo hàm riêng của điện trở suất biểu kiến theo các thông số mô hình, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda\u003C\u002Fscript> là hệ số giảm chấn (damping factor) điều hòa độ mượt, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">F\u003C\u002Fscript> là toán tử làm mịn không gian, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g\u003C\u002Fscript> là vector độ lệch giữa số liệu đo đạc thực tế và số liệu mô hình hóa lý thuyết. Quá trình lặp dừng lại khi sai số bình phương trung bình quân phương (RMS error) giảm xuống dưới ngưỡng chấp nhận (thường &lt; 3–5%).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng Thực tiễn trong Kỹ thuật và Môi trường\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Phương pháp ảnh điện 2D đã trở thành công cụ không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực khảo sát địa kỹ thuật hiện đại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khảo sát Địa kỹ thuật và Xây dựng Công trình:\u003C\u002Fstrong> Định vị chính xác các hốc ngầm caster đá vôi, hang động tự nhiên, các đới đất đá bị dập vỡ phong hóa mạnh hoặc các đới trượt tiềm ẩn bên dưới nền móng đập thủy điện, mố cầu và công trình cao tầng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Địa chất Thủy văn:\u003C\u002Fstrong> Khảo sát phân bố ranh giới tầng chứa nước ngọt, xác định bề dày tầng cuội sỏi ngậm nước, và lập bản đồ xâm nhập mặn tại các vùng đồng bằng ven biển (nước mặn có điện trở suất rất thấp, thường &lt; 1–5 \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Omega\\cdot\text{m}\u003C\u002Fscript>).\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Môi trường và Khảo cổ học:\u003C\u002Fstrong> Lập bản đồ lan truyền dòng ô nhiễm rác thải (leachate plume) từ bãi chôn lấp rác rò rỉ, tìm kiếm ranh giới móng thành cổ, hầm mộ và cổ vật bị chôn vùi mà không cần đào phá mặt bằng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Ch2>Hạn chế Kỹ thuật và Các Yếu tố Gây Sai số trong Đo đạc 2D ERT\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù là công cụ khảo sát địa kỹ thuật mạnh mẽ, phương pháp ảnh điện 2D tiềm ẩn một số giới hạn tự nhiên cần được chuyên gia địa vật lý đánh giá cẩn trọng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tính không duy nhất của nghiệm nghịch đảo (Equivalence \u002F Non-uniqueness):\u003C\u002Fstrong> Về mặt toán học, có thể tồn tại nhiều mô hình phân bố điện trở suất ngầm khác nhau cùng cho ra một tập số liệu điện trở suất biểu kiến tương đương trên mặt đất. Do đó, kết quả ảnh điện 2D bắt buộc phải được đối soát hiệu chuẩn với tài liệu lỗ khoan địa chất thực tế hoặc các phương pháp địa vật lý độc lập (như địa chấn khúc xạ hoặc radar xuyên đất GPR).\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng hiệu ứng ba chiều (3D Effects):\u003C\u002Fstrong> Mô hình 2D giả định {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20%C4%91%E1%BB%8Ba%20ch%E1%BA%A5t%22%7D}} là vô hạn và đồng nhất theo phương vuông góc với tuyến đo. Nếu tồn tại các khối dị thường dị hướng lớn nằm chéo hoặc lệch sang bên cạnh tuyến cáp, chúng có thể tạo ra các dị thường giả mạo (ghost anomalies) phản xạ vào mặt cắt 2D.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nhiễu điện từ trường công nghiệp:\u003C\u002Fstrong> Sự hiện diện của các đường dây tải điện cao thế, đường ống dẫn khí bằng kim loại chôn ngầm, hàng rào lưới thép hoặc dòng điện lạc trong đất (stray currents) có thể gây sai lệch nghiêm trọng các tín hiệu điện áp đo đạc, đòi hỏi sử dụng bộ lọc tần số chuyên dụng và đảo chiều dòng phát nhiều chu kỳ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Quy chuẩn Báo cáo và Trình bày Kết quả Khảo sát Địa vật lý\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một báo cáo kết quả khảo sát ảnh điện 2D đạt chuẩn kỹ thuật chuyên ngành cần bao gồm đầy đủ các cấu phần sau: bản đồ bố trí tuyến đo với tọa độ mốc GPS chính xác; bảng ghi nhận điện trở tiếp xúc của hệ thống cọc điện cực; đồ thị mặt cắt giả điện trở suất biểu kiến thô thực địa; mặt cắt giả tính toán từ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20h%C3%ACnh%20l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%22%7D}}; và mặt cắt nghịch đảo 2D thể hiện điện trở suất thực tế kèm theo bảng phân cấp địa tầng tương ứng theo thang đo màu logarithmic chuẩn quốc tế, nêu rõ giá trị sai số bình phương trung bình quân phương RMS đạt được.\u003C\u002Fp>","2D electrical resistivity tomography (2D ERT)","phương pháp thăm dò địa vật lý điện trở biểu kiến đa cực đa kênh, cho phép khảo sát và tái tạo mặt cắt không gian hai chiều về sự phân bố điện trở suất thực của môi trường địa chất dưới lòng đất.","NATURAL_SCIENCES",[21,28,35],{"citationText":22,"title":23,"authors":24,"source":25,"year":26,"doi":27,"url":10},"Dahlin (2022). Case: mapping of quick clay risk by electrical resistivity tomography (ERT). Engineering Geophysics. doi:10.1201\u002F9781003184676-35","Case: mapping of quick clay risk by electrical resistivity tomography (ERT)","Dahlin","Engineering Geophysics",2022,"10.1201\u002F9781003184676-35",{"citationText":29,"title":30,"authors":31,"source":32,"year":33,"doi":34,"url":10},"Florent, Rémi, Laurent (2026). Detection of macropore-sacle soil heterogeneities related to water preferential flows at meter depth by using Electrical Resistivity Tomography (ERT) and machine learning 2D inversion. Copernicus GmbH. doi:10.5194\u002Fegusphere-egu26-9402","Detection of macropore-sacle soil heterogeneities related to water preferential flows at meter depth by using Electrical Resistivity Tomography (ERT) and machine learning 2D inversion","Florent, Rémi, Laurent","Copernicus GmbH",2026,"10.5194\u002Fegusphere-egu26-9402",{"citationText":36,"title":37,"authors":38,"source":39,"year":40,"doi":41,"url":10},"van Schoor, Kemna (2003). 2D inversion of 3D cross-borehole resistivity tomography (ERT or RESTOM) data. 8th SAGA Biennial Technical Meeting and Exhibition. doi:10.3997\u002F2214-4609-pdb.144.13","2D inversion of 3D cross-borehole resistivity tomography (ERT or RESTOM) data","van Schoor, Kemna","8th SAGA Biennial Technical Meeting and Exhibition",2003,"10.3997\u002F2214-4609-pdb.144.13",[43,46,49],{"question":44,"answer":45},"Nguyên lý cơ bản của phép đo mặt cắt điện trở suất 2D là gì?","Một mảng gồm hàng chục điện cực cắm thẳng hàng trên mặt đất; dòng điện một chiều (hoặc xoay chiều tần số thấp) được truyền vào đất qua cặp điện cực phát dòng (A, B) và hiệu điện thế được đo qua cặp cực thu (M, N) theo các cấu hình chuẩn.",{"question":47,"answer":48},"Các cấu hình mảng điện cực (electrode array) thông dụng trong đo 2D ERT?","Bao gồm mảng Wenner (độ nhạy cao với biến đổi phân tầng nằm ngang), mảng Schlumberger, và mảng Dipole-Dipole (độ phân giải cao với các dị thường cấu trúc thẳng đứng như khe nứt, đứt gãy).",{"question":50,"answer":51},"Quá trình nghịch đảo địa vật lý (inversion) trong 2D ERT diễn ra như thế nào?","Dữ liệu điện trở suất biểu kiến thực địa được xử lý qua thuật toán tối ưu hóa bình phương tối thiểu (least-squares inversion) có làm mịn màng để chuyển đổi thành mô hình mặt cắt 2D thể hiện điện trở suất thực tế.",{"id":53,"researcherId":10,"name":54,"imageUrl":55},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[57,58,59,60,61,62,63,64,65,66],"điện trở suất","dòng điện một chiều","môi trường đất","độ phân giải","địa vật lý","điện trở tiếp xúc","cấu trúc hình học","bài toán tối ưu","cấu trúc địa chất","mô hình lý thuyết",10,true,"PUBLISHED","2023-08-15T12:57:26.302+00:00","2026-09-10T03:11:34.639+00:00","2026-09-10T03:11:34.323+00:00",351,[75,78,81,84,87,90,93,96,99,102],{"id":76,"title":77,"term":76,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"pls sem","PLS-SEM là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về PLS-SEM",{"id":79,"title":80,"term":79,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tối ưu hoá","Tối ưu hoá là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tối ưu hoá",{"id":82,"title":83,"term":82,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khoáng hóa","Khoáng hóa là gì? Các nghiên cứu khoa học về Khoáng hóa",{"id":85,"title":86,"term":85,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mâu thuẫn","Mâu thuẫn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":88,"title":89,"term":88,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"landsat 8","Landsat 8 là gì? Các công bố khoa học về Landsat 8",{"id":91,"title":92,"term":91,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"webgis","WebGIS là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về WebGIS",{"id":94,"title":95,"term":94,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"động cơ học tập","Động cơ học tập là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":97,"title":98,"term":97,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"trường hấp dẫn","Trường hấp dẫn là gì? Nghiên cứu khoa học về Trường hấp dẫn",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phổ hồng ngoại","Phổ hồng ngoại là gì? Nghiên cứu khoa học về phổ hồng ngoại",{"id":103,"title":104,"term":103,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nano silica","Nano silica là gì? Các công bố khoa học về Nano silica"]