[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_%C4%91%E1%BB%99%20c%C4%83ng%20giao%20di%E1%BB%87n{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_độ căng giao diện":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":24,"discipline":25,"references":26,"faqs":61,"createUser":74,"publishUser":78,"keywords":79,"keywordCount":90,"enrichTopicLink":91,"status":92,"createTime":93,"updateTime":94,"publishTime":95,"linkEnrichedTime":96,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":97,"relateTopics":98},"độ căng giao diện","Độ căng giao diện: Bản chất nhiệt động lực học và đo lường","Tìm hiểu về độ căng giao diện: bản chất nhiệt động lực học, mô hình Girifalco–Good, Fowkes, phương pháp giọt treo và cơ chế hạ độ căng siêu thấp.","\u003Cp>Độ căng giao diện là đại lượng nhiệt động lực học biểu thị biến thiên năng lượng tự do Gibbs trên một đơn vị diện tích cần thiết để mở rộng bề mặt tiếp xúc phân cách giữa hai pha không trộn lẫn. Hiện tượng này xuất hiện tại ranh giới phân chia giữa hai chất lỏng không hòa tan hoặc giữa một pha lỏng và một pha rắn, bắt nguồn từ sự mất cân bằng giữa lực cố kết nội tại của mỗi pha và lực bám dính giữa các phân tử khác pha tại mặt phân giới. Bài viết này trình bày bản chất nhiệt động lực học của độ căng giao diện, các lý thuyết tương tác phân tử kinh điển, phương pháp đo thực nghiệm chuẩn mực, cơ chế hạ độ căng giao diện siêu thấp bằng chất hoạt động bề mặt và những ứng dụng then chốt trong công nghệ hóa học và khai thác dầu khí.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất nhiệt động lực học và nguồn gốc vi mô\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Từ góc độ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20l%E1%BB%B1c%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} cổ điển, khi xét một hệ gồm hai pha lỏng tiếp xúc nhau tại điều kiện đẳng nhiệt và đẳng áp, việc gia tăng diện tích mặt phân giới đòi hỏi phải đưa thêm các phân tử từ trong lòng mỗi khối pha lỏng ra vùng ranh giới. Do các phân tử tại bề mặt phân cách bị bao quanh bởi môi trường bất đối xứng về trường lực liên kết, chúng sở hữu mức thế năng cao hơn so với các phân tử nằm sâu trong lòng pha. Biến thiên năng lượng tự do Gibbs của hệ khi thay đổi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22di%E1%BB%87n%20t%C3%ADch%20ti%E1%BA%BFp%20x%C3%BAc%22%7D}} giao diện được xác định theo hệ thức:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma = \\left(\\frac{\\partial G}{\\partial A}\\right)_{T, P, n}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma\u003C\u002Fscript> là độ căng giao diện, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">G\u003C\u002Fscript> là năng lượng tự do Gibbs của toàn hệ thống, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">A\u003C\u002Fscript> là {{topic|%7B%22topic%22%3A%22di%E1%BB%87n%20t%C3%ADch%20b%E1%BB%81%20m%E1%BA%B7t%22%7D}} phân cách, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">T\u003C\u002Fscript> là nhiệt độ tuyệt đối, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">P\u003C\u002Fscript> là áp suất và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> biểu thị số mol của các cấu tử trong hệ kín. Trong hệ đơn vị quốc tế SI, độ căng giao diện có thứ nguyên là năng lượng trên diện tích (joule trên mét vuông, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{J\u002Fm}^2\u003C\u002Fscript>) hoặc lực trên chiều dài (newton trên mét, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{N\u002Fm}\u003C\u002Fscript>), thường được biểu diễn bằng ước số mili-newton trên mét (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{mN\u002Fm}\u003C\u002Fscript>).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt vi mô, độ lớn của độ căng giao diện phản ánh tương quan cạnh tranh giữa hai loại lực liên phân tử: lực cố kết (cohesion) giữ các phân tử cùng loại lại với nhau và lực bám dính (adhesion) hút các phân tử khác loại qua ranh giới tiếp xúc. Nếu lực bám dính giữa hai pha rất mạnh, các phân tử sẽ có xu hướng khuếch tán xen kẽ vào nhau để tạo thành dung dịch đồng thể, khiến mặt phân cách biến mất và độ căng giao diện triệt tiêu. Ngược lại, nếu lực cố kết nội tại của từng pha vượt trội so với lực bám dính tương hỗ, hệ sẽ có xu hướng co cụm lại để giảm thiểu tối đa diện tích tiếp xúc, dẫn đến giá trị độ căng giao diện dương và lớn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các mô hình lý thuyết tương tác phân tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Việc định lượng và dự đoán độ căng giao diện giữa hai pha lỏng từ các thông số bề mặt của từng chất nguyên chất là một bài toán kinh điển của hóa học bề mặt. Hai công trình lý thuyết nền tảng đã đặt cơ sở cho lĩnh vực này:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Mô hình tương tác Girifalco–Good\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Nghiên cứu của Girifalco và Good (1957) công bố trên tạp chí The Journal of Physical Chemistry đã thiết lập phương trình liên hệ giữa độ căng giao diện của hai pha lỏng với sức căng bề mặt của từng pha riêng biệt. Các tác giả đề xuất rằng công bám dính giữa hai chất lỏng có thể được xấp xỉ bằng trung bình nhân của công cố kết của từng chất lỏng, hiệu chỉnh qua một hệ số tương tác liên phân tử không thứ nguyên \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Phi\u003C\u002Fscript>. Phương trình Girifalco–Good có dạng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma_{ab} = \\gamma_a + \\gamma_b - 2\\Phi \\sqrt{\\gamma_a \\gamma_b}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong phương trình trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma_{ab}\u003C\u002Fscript> là độ căng giao diện giữa hai pha lỏng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">a\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">b\u003C\u002Fscript>, trong khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma_a\u003C\u002Fscript> và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma_b\u003C\u002Fscript> lần lượt là sức căng bề mặt của từng chất lỏng khi tiếp xúc với pha khí của chính nó. Hệ số tương tác \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Phi\u003C\u002Fscript> phụ thuộc vào tỷ số thể tích phân tử và bản chất của các trường lực tương tác (lực phân tán so với liên kết lưỡng cực hoặc {{topic|%7B%22topic%22%3A%22li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt%20hydro%22%7D}}). Đối với các hệ chất lỏng chỉ có lực phân tán thuần túy và kích thước phân tử tương đương, hệ số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Phi\u003C\u002Fscript> tiệm cận giá trị đơn vị.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Lý thuyết lực phân tách thành phần của Fowkes\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Kế thừa và mở rộng cách tiếp cận trên, Fowkes (1964) đã công bố trên Industrial &amp; Engineering Chemistry một lý thuyết mang tính đột phá về sự phân tách các lực hút tại mặt phân giới. Fowkes (1964) cho rằng tổng sức căng bề mặt của một chất lỏng có thể được phân rã thành tổng của các thành phần lực liên kết độc lập, bao gồm thành phần lực phân tán London và các thành phần tương tác cực:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma = \\gamma^d + \\gamma^p\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi hai pha lỏng tiếp xúc nhau mà tại mặt phân giới chỉ có tương tác phân tán London là có thể tương tác hiệu quả qua ranh giới (ví dụ hệ tiếp xúc giữa nước và hydrocacbon no), công bám dính chỉ bắt nguồn từ thành phần phân tán. Fowkes (1964) đã thiết lập phương trình tính độ căng giao diện cho trường hợp này:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma_{ab} = \\gamma_a + \\gamma_b - 2\\sqrt{\\gamma_a^d \\gamma_b^d}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Mô hình của Fowkes cho phép tính toán chính xác thành phần lực phân tán của nước và nhiều chất lỏng hữu cơ thông qua các phép đo độ căng giao diện thực nghiệm, mở đường cho sự phát triển của các lý thuyết thấm ướt và hóa học keo hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Loại giao diện\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Ví dụ hệ pha tiêu biểu\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Bản chất lực tương tác chính\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đặc trưng độ căng giao diện\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Khí – Lỏng (Sức căng bề mặt)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Nước tinh khiết – Không khí\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Lực cố kết mạng lưới liên kết hydro nội tại cực mạnh trong nước\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Rất cao do pha khí có lực hút phân tử không đáng kể\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Lỏng – Lỏng không phân cực\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Nước – Hydrocacbon mạch thẳng (Hexan, Octan)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tương tác tại ranh giới chỉ gồm lực phân tán London yếu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Cao do nước duy trì lực cố kết liên kết hydro nội tại mạnh\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Lỏng – Lỏng có tính phân cực\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Nước – Rượu mạch dài (Octanol)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Xuất hiện liên kết hydro và tương tác lưỡng cực tại ranh giới\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Trung bình thấp do lực bám dính tương đối thuận lợi\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Hệ có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A5t%20ho%E1%BA%A1t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20b%E1%BB%81%20m%E1%BA%B7t%22%7D}}\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dầu mỏ – Nước muối có vi nhũ tương\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Phân tử lưỡng ái định hướng làm giảm {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%E1%BA%ADt%20%C4%91%E1%BB%99%20n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} ranh giới\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Siêu thấp do sự hấp phụ bão hòa của lớp đơn phân tử hoạt động bề mặt\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Phương pháp đo thực nghiệm chuẩn mực\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Xác định chính xác độ căng giao diện là yêu cầu kỹ thuật trung tâm trong nhiều ngành khoa học ứng dụng. Trong số các phương pháp đo lường quang học không xâm lấn, phương pháp giọt treo (pendant drop method) giữ vị trí tiêu chuẩn:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu của Stauffer (1965) trên The Journal of Physical Chemistry đã chuẩn hóa cơ sở toán học và quy trình thực nghiệm của phương pháp giọt treo. Phương pháp này dựa trên việc chụp ảnh biên dạng của một giọt chất lỏng treo lơ lửng ở đầu ống mao quản cơ học bên trong một môi trường chất lỏng hoặc chất khí bao quanh. Hình dạng cân bằng của giọt treo chịu sự chi phối đồng thời của hai yếu tố đối kháng: độ căng giao diện có xu hướng kéo giọt thành hình cầu hoàn hảo để tối thiểu hóa diện tích, và lực trọng trường làm giọt bị kéo dài theo phương thẳng đứng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Cân bằng cơ học này được mô tả chính xác bởi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20tr%C3%ACnh%20vi%20ph%C3%A2n%22%7D}} Young-Laplace. Stauffer (1965) đã hoàn thiện phương pháp giải số phương trình Young-Laplace bằng cách sử dụng tỷ số hình học quy ước giữa đường kính tại điểm cách đỉnh giọt một khoảng bằng đường kính xích đạo và đường kính xích đạo cực đại của giọt. Bằng cách đối chiếu tỷ số hình dạng đo được với các bảng hàm số toán học chuẩn, độ căng giao diện được tính toán trực tiếp từ kích thước quang học của giọt, gia tốc trọng trường và hiệu số khối lượng riêng giữa hai pha lỏng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Độ căng giao diện siêu thấp và động học chất hoạt động bề mặt\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong các ứng dụng nâng cao như thu hồi dầu tăng cường bằng phương pháp hóa học hay bào chế hệ dẫn thuốc nano, yêu cầu đặt ra là phải hạ độ căng giao diện xuống mức siêu thấp để thúc đẩy sự phân tán tự phát của các giọt chất lỏng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Công trình của Huh (1979) trên Journal of Colloid and Interface Science đã thiết lập cơ sở lý thuyết định lượng cho hiện tượng hạ độ căng giao diện trong các hệ vi nhũ tương đa pha. Dựa trên mô hình giọt vi nhũ tương hình cầu, Huh (1979) đã phân tích trạng thái cân bằng nhiệt động giữa pha vi nhũ tương với pha dầu và pha nước muối thừa, đồng thời xây dựng phương trình toán học chứng minh rằng độ căng giao diện siêu thấp tỷ lệ nghịch với bình phương tỷ số hòa tan của dầu hoặc nước trong pha vi nhũ tương:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\gamma \\approx \\frac{C}{\\sigma^2}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C\u003C\u002Fscript> là hằng số tỷ lệ Chun–Huh mang thứ nguyên độ căng giao diện (với giá trị thực nghiệm xấp xỉ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">0{,}3\\text{ mN\u002Fm}\u003C\u002Fscript> đối với đa số hệ dầu – nước muối – chất hoạt động bề mặt) và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> là tỷ số hòa tan (thể tích dầu hoặc nước được hòa tan trên một đơn vị thể tích chất hoạt động bề mặt). Mối liên hệ định lượng của Huh (1979) chứng minh rằng khi chất hoạt động bề mặt tối ưu hóa được khả năng hòa tan đồng thời cả dầu và nước, độ căng giao diện có thể giảm hàng nghìn lần so với hệ nguyên chất, làm tăng mạnh số mao dẫn và cho phép giải phóng, huy động các giọt dầu bị bẫy mao dẫn trong các lỗ rỗng của tầng đá vỉa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bên cạnh trạng thái cân bằng tĩnh, động học của quá trình hấp phụ chất hoạt động bề mặt lên mặt phân cách đóng vai trò sống còn trong các hệ chuyển động nhanh. Bài tổng quan của Brigodiot và cộng sự (2024) trên tạp chí Advances in Colloid and Interface Science đã phân tích sâu sắc động học truyền khối của phân tử hoạt động bề mặt thông qua các phép đo độ căng giao diện động. Nhóm tác giả đã tổng kết các mô hình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%E1%BA%ADn%20chuy%E1%BB%83n%20kh%E1%BB%91i%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} từ vùng lòng pha đến bề mặt ranh giới, bao gồm cơ chế kiểm soát bởi sự khuếch tán phân tử và cơ chế kiểm soát bởi rào cản năng lượng hấp phụ tại giao diện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đặc biệt, Brigodiot và cộng sự (2024) nhấn mạnh sự đóng góp của các kỹ thuật vi lưu hiện đại trong việc tạo ra các giọt chất lỏng có kích thước siêu nhỏ với thời gian hình thành bề mặt ở thang mili-giây. Các thiết bị vi lưu cho phép đo lường chính xác sự biến thiên của độ căng giao diện động ngay trong những khoảnh khắc đầu tiên của quá trình tiếp xúc pha, cung cấp công cụ đắc lực để tối ưu hóa công thức nhũ tương trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và vi bao sinh học.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Điều kiện áp dụng và giới hạn phương pháp luận\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi áp dụng các nguyên lý và kỹ thuật đo độ căng giao diện vào thực tiễn nghiên cứu, cần xem xét các yếu tố giới hạn phương pháp luận sau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Độ nhạy cảm cực cao với tạp chất bề mặt:\u003C\u002Fstrong> Do các phân tử hoạt tính bề mặt có xu hướng tự phát hấp phụ lên ranh giới pha để làm giảm {{topic|%7B%22topic%22%3A%22n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%B1%20do%22%7D}}, sự hiện diện của tạp chất dù ở nồng độ vết cũng có thể làm suy giảm nghiêm trọng giá trị độ căng giao diện đo được, dẫn đến sai lệch kết quả thực nghiệm.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Yêu cầu cân bằng nhiệt động lực học:\u003C\u002Fstrong> Các phương pháp đo tĩnh như giọt treo đòi hỏi hệ phải đạt trạng thái cân bằng hấp phụ và cân bằng nhiệt độ hoàn chỉnh. Đối với các hệ chứa phân tử lớn như polymer hoặc protein, thời gian để đạt cân bằng cấu hình tại mặt phân giới có thể kéo dài nhiều giờ hoặc nhiều ngày.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiệu số khối lượng riêng giữa hai pha:\u003C\u002Fstrong> Phương pháp giọt treo phụ thuộc trực tiếp vào lực nổi và trọng trường để làm biến dạng giọt. Khi hai chất lỏng có khối lượng riêng xấp xỉ nhau, giọt sẽ không bị biến dạng đủ mức để phân tích hình học, buộc phải chuyển sang sử dụng phương pháp giọt xoay (spinning drop) dựa trên lực ly tâm.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Ảnh hưởng của hiện tượng nhớt đàn hồi bề mặt:\u003C\u002Fstrong> Tại các giao diện bị bao phủ bởi màng protein hoặc hạt nano keo, ranh giới pha có thể biểu hiện {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C3%ADnh%20ch%E1%BA%A5t%20c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} phức tạp như độ nhớt trượt và độ đàn hồi giãn nở, khiến các mô hình tĩnh cổ điển không còn mô tả đầy đủ hành vi biến dạng của giao diện.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Độ căng giao diện","Interfacial tension",[20,21,22,23],"sức căng giao diện","năng lượng tự do giao diện","sức căng liên pha","interfacial surface tension","Độ căng giao diện là đại lượng nhiệt động lực học biểu thị biến thiên năng lượng tự do Gibbs trên một đơn vị diện tích cần thiết để mở rộng bề mặt tiếp xúc phân cách giữa hai pha không trộn lẫn.","NATURAL_SCIENCES",[27,34,41,47,54],{"citationText":28,"title":29,"authors":30,"source":31,"year":32,"doi":33,"url":10},"Girifalco, L. A., & Good, R. J. (1957). A Theory for the Estimation of Surface and Interfacial Energies. I. Derivation and Application to Interfacial Tension. The Journal of Physical Chemistry, 61(7), 904–909.","A Theory for the Estimation of Surface and Interfacial Energies. I. Derivation and Application to Interfacial Tension","Girifalco, Good","The Journal of Physical Chemistry",1957,"10.1021\u002Fj150553a013",{"citationText":35,"title":36,"authors":37,"source":38,"year":39,"doi":40,"url":10},"Fowkes, F. M. (1964). ATTRACTIVE FORCES AT INTERFACES. Industrial & Engineering Chemistry, 56(12), 40–52.","ATTRACTIVE FORCES AT INTERFACES","Fowkes","Industrial & Engineering Chemistry",1964,"10.1021\u002Fie50660a008",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":31,"year":45,"doi":46,"url":10},"Stauffer, C. E. (1965). The Measurement of Surface Tension by the Pendant Drop Technique. The Journal of Physical Chemistry, 69(6), 1933–1938.","The Measurement of Surface Tension by the Pendant Drop Technique","Stauffer",1965,"10.1021\u002Fj100890a024",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":10},"Huh, C. (1979). Interfacial tensions and solubilizing ability of a microemulsion phase that coexists with oil and brine. Journal of Colloid and Interface Science, 71(2), 408–426.","Interfacial tensions and solubilizing ability of a microemulsion phase that coexists with oil and brine","Huh","Journal of Colloid and Interface Science",1979,"10.1016\u002F0021-9797(79)90249-2",{"citationText":55,"title":56,"authors":57,"source":58,"year":59,"doi":60,"url":10},"Brigodiot, M., Marsiglia, S., Dalmazzone, C., Schroën, K., & Colin, A. (2024). Studying surfactant mass transport through dynamic interfacial tension measurements: A review of the models, experiments, and the contribution of microfluidics. Advances in Colloid and Interface Science, 331, 103239.","Studying surfactant mass transport through dynamic interfacial tension measurements: A review of the models, experiments, and the contribution of microfluidics","Brigodiot, Marsiglia, Dalmazzone, Schroën, Colin","Advances in Colloid and Interface Science",2024,"10.1016\u002Fj.cis.2024.103239",[62,65,68,71],{"question":63,"answer":64},"Độ căng giao diện khác gì so với sức căng bề mặt thông thường?","Sức căng bề mặt thường được dùng để chỉ mặt phân cách giữa một pha cô đặc (lỏng hoặc rắn) với pha khí, trong khi độ căng giao diện là thuật ngữ tổng quát áp dụng cho mặt phân giới giữa hai pha cô đặc không trộn lẫn như lỏng - lỏng hoặc lỏng - rắn.",{"question":66,"answer":67},"Tại sao phương pháp giọt treo được coi là kỹ thuật đo lường chuẩn mực?","Phương pháp giọt treo là kỹ thuật quang học không xâm lấn, đo lường cân bằng cơ học giữa độ căng giao diện và trọng trường thông qua biên dạng giọt mô tả bởi phương trình Young-Laplace, cho phép đo lường chính xác và theo dõi động học giao diện theo thời gian.",{"question":69,"answer":70},"Độ căng giao diện siêu thấp là gì và có ý nghĩa như thế nào trong công nghiệp?","Độ căng giao diện siêu thấp là trạng thái ranh giới pha có giá trị năng lượng giảm hàng nghìn lần nhờ lớp hấp phụ chất hoạt động bề mặt tối ưu, đóng vai trò quyết định trong việc giải phóng dầu mỏ mắc kẹt trong tầng đá vỉa và bào chế nhũ tương nano tự phát.",{"question":72,"answer":73},"Lực phân tán London đóng vai trò gì trong mô hình của Fowkes?","Mô hình Fowkes phân tách sức căng bề mặt thành các thành phần độc lập và chỉ ra rằng tại mặt phân giới giữa hai chất lỏng không phân cực hoặc phân cực yếu, chỉ có thành phần lực phân tán London tương tác qua ranh giới để tạo nên công bám dính.",{"id":75,"researcherId":10,"name":76,"imageUrl":77},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":75,"researcherId":10,"name":76,"imageUrl":77},[80,81,82,83,84,85,86,87,88,89],"nhiệt động lực học","diện tích tiếp xúc","diện tích bề mặt","liên kết hydro","chất hoạt động bề mặt","mật độ năng lượng","phương trình vi phân","vận chuyển khối lượng","năng lượng tự do","tính chất cơ học",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.795+00:00","2026-09-10T11:10:56.143+00:00","2026-09-10T10:53:33.750+00:00","2026-09-10T11:10:55.666+00:00",0,[99,102,105,108,111,114,117,120,123,126],{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhiệt dung","Nhiệt dung là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nhiệt dung",{"id":103,"title":104,"term":103,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"toán cao cấp","Toán cao cấp là gì? Các nghiên cứu khoa học về Toán cao cấp",{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"simulink","Simulink là gì? Các công bố khoa học về Simulink",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydroxy","Hydroxy là gì? Các công bố khoa học về Hydroxy",{"id":112,"title":113,"term":112,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"simulation","Simulation là gì? Các nghiên cứu khoa học về mô phỏng",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phân compost","Phân compost là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phân compost",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydrophilic","Hydrophilic là gì? Các công bố khoa học về Hydrophilic",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương trình chuyển động","Phương trình chuyển động là gì? Các bài nghiên cứu khoa học",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hiệu suất nhiệt","Hiệu suất nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình hóa toán học","Mô hình hóa toán học là gì? Các nghiên cứu khoa học"]