[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_%C4%91%E1%BA%ADu%20faba{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_đậu faba":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":54,"createUser":64,"publishUser":68,"keywords":69,"keywordCount":80,"enrichTopicLink":81,"status":82,"createTime":83,"updateTime":84,"publishTime":85,"linkEnrichedTime":86,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":87,"relateTopics":88},"đậu faba","Đậu faba là gì? Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng","Đậu faba là loài cây họ Đậu giàu đạm thực vật, có khả năng cố định nitơ sinh học vượt trội và sở hữu bộ gen lớn được giải mã hoàn chỉnh.","\u003Cp>Đậu faba (Vicia faba L.), còn được biết đến phổ biến trong tiếng Việt với tên gọi đậu tằm hoặc đậu ngựa, là một trong những loài cây họ Đậu (Fabaceae) lâu đời nhất được loài người thuần hóa và gieo trồng từ thời kỳ đồ đá mới. Loài cây thân thảo hàng năm này đóng vai trò trung tâm trong an ninh lương thực toàn cầu nhờ hàm lượng protein cao trong hạt, khả năng cố định nitơ sinh học vượt trội giúp phục hồi độ phì nhiêu của đất, và tính thích ứng tốt với khí hậu ôn đới cũng như cận nhiệt đới. Bài viết cung cấp phân tích toàn diện về đặc điểm thực vật học, giá trị dinh dưỡng, sinh thái học nốt sần cố định đạm, yếu tố kháng dinh dưỡng gây hội chứng favism và những bước tiến đột phá trong công nghệ giải mã bộ gen cây trồng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguồn gốc tiến hóa và đặc tính thực vật học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đậu faba có nguồn gốc phát sinh từ vùng Lưỡi liềm Màu mỡ ở Trung Đông và khu vực bồn địa Địa Trung Hải, nơi các dấu tích khảo cổ học cho thấy loài cây này đã gắn bó mật thiết với các nền văn minh sơ khai từ hơn một vạn năm trước. Về mặt phân loại học thực vật, đậu faba thuộc chi Vicia, phân họ Đậu (Faboideae), họ Đậu (Fabaceae). Khác biệt với hầu hết các loài đậu leo khác cùng họ, đậu faba là loài cây thân thảo đứng vững chãi, không bò lan.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thân cây có tiết diện hình bốn cạnh vuông vức, rỗng ở giữa, đạt chiều cao trung bình từ nửa mét đến gần hai mét tùy thuộc vào giống canh tác và điều kiện dinh dưỡng của đất. Hệ thống rễ cọc ăn sâu vào lòng đất với mạng lưới rễ nhánh phát triển dày đặc, tạo tiền đề thuận lợi cho việc thiết lập quan hệ cộng sinh vi sinh vật. Lá của cây là loại lá kép lông chim chẵn, gồm hai đến sáu lá chét hình bầu dục màu xanh xám có lớp phấn sáp mỏng bao phủ để hạn chế sự thoát hơi nước trong điều kiện khô hạn. Tua cuốn ở đầu ngọn lá hầu như tiêu giảm hoàn toàn hoặc chỉ tồn tại dưới dạng một gai nhọn nhỏ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Cụm hoa dạng chùm mọc ra từ nách lá, mang từ một đến sáu hoa lớn có cấu trúc cánh bướm điển hình. Tràng hoa có màu trắng tinh khiết hoặc trắng sữa, nổi bật với các vết đốm màu tím đen đậm nét trên hai cánh bên. Đậu faba là loài cây thụ phấn chéo một phần, phụ thuộc đáng kể vào hoạt động của các loài ong thụ phấn hoang dã và ong mật để đạt tỷ lệ đậu quả tối ưu. Quả đậu khi chín có dạng hình trụ hơi dẹp, vỏ dày xốp khi còn non và chuyển sang màu nâu đen cứng ráp khi khô, chứa bên trong từ hai đến tám hạt có kích thước biến thiên rất lớn giữa các nhóm giống.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại giống và giá trị dinh dưỡng vượt trội\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dựa trên kích thước và khối lượng hạt, các nhà nông học trên thế giới phân chia loài đậu faba thành ba nhóm giống nông học chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Nhóm phân loại\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Tên nông học\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kích cỡ hạt\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Mục đích sử dụng chủ yếu\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vicia faba var. major\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đậu hạt lớn (Broad bean)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hạt rất lớn, dẹt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dùng tươi hoặc sấy khô làm thực phẩm trực tiếp cho con người\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vicia faba var. equina\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đậu ngựa (Horse bean)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hạt kích thước trung bình\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chế biến {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%A9c%20%C4%83n%20ch%C4%83n%20nu%C3%B4i%22%7D}} gia súc và làm nguyên liệu công nghiệp\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vicia faba var. minor\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đậu tằm hạt nhỏ (Tick bean)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hạt nhỏ, tròn hoặc bầu dục\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Làm cây phân xanh, thức ăn bổ sung đạm cho gia cầm và phục hồi đất\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Về khía cạnh dinh dưỡng học, đậu faba được công nhận là một siêu thực phẩm giàu protein thực vật. Theo công trình tổng quan toàn diện của Multari và cs. (2015), hạt đậu faba khô sở hữu hàm lượng protein dồi dào dao động từ 26 đến 35% khối lượng chất khô, vượt trội hơn gấp nhiều lần so với các loại ngũ cốc thông thường như lúa mì, ngô, gạo và tiệm cận với hàm lượng đạm của hạt đậu nành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Protein trong đậu faba có thành phần acid amin thiết yếu cân đối, đặc biệt rất giàu acid amin lysine và threonine, vốn là hai loại acid amin thường bị thiếu hụt nghiêm trọng trong khẩu phần ăn chủ yếu dựa vào ngũ cốc. Ngoài ra, phần tinh bột trong hạt chứa hàm lượng cao tinh bột kháng tiêu hóa chậm cùng lượng chất xơ hòa tan dồi dào, giúp duy trì {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BB%89%20s%E1%BB%91%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%20huy%E1%BA%BFt%22%7D}} ở mức thấp và mang lại lợi ích rõ rệt cho {{topic|%7B%22topic%22%3A%22s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB%8Fe%20tim%20m%E1%BA%A1ch%22%7D}} cũng như {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20vi%20sinh%20v%E1%BA%ADt%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%20ru%E1%BB%99t%22%7D}} của con người.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Yếu tố kháng dinh dưỡng và hội chứng favism\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù sở hữu hồ sơ dinh dưỡng rất ấn tượng, việc mở rộng diện tích tiêu thụ đậu faba trên quy mô toàn cầu từ lâu đã bị cản trở bởi sự hiện diện của một số hợp chất kháng dinh dưỡng tự nhiên được tích lũy trong hạt. Nổi bật nhất trong số đó là hai hợp chất glycoside pyrimidine có tên gọi vicine và convicine.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi con người ăn hạt đậu faba chưa qua chế biến nhiệt kỹ lưỡng, hệ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22vi%20khu%E1%BA%A9n%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%20ru%E1%BB%99t%22%7D}} sẽ thủy phân hai hợp chất này để giải phóng ra các chất aglycone có hoạt tính oxy hóa cực mạnh là divicine và isouramil. Ở người khỏe mạnh bình thường, phân tử {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A5t%20ch%E1%BB%91ng%20oxy%20h%C3%B3a%22%7D}} glutathione nội bào sẽ nhanh chóng trung hòa các gốc tự do này. Tuy nhiên, ở những cá thể mang đột biến gen di truyền gây thiếu hụt enzyme glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD), nồng độ glutathione dạng khử không thể tái tạo kịp thời.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sự thiếu hụt men G6PD dẫn đến hiện tượng stress oxy hóa dữ dội làm tan vỡ màng tế bào hồng cầu hàng loạt, gây ra một bệnh cảnh cấp tính nghiêm trọng được gọi là hội chứng favism trong y văn cổ điển, biểu hiện qua triệu chứng sốt cao, vàng mắt vàng da, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22thi%E1%BA%BFu%20m%C3%A1u%20t%C3%A1n%20huy%E1%BA%BFt%22%7D}} cấp tính và đi tiểu ra huyết sắc tố. Bên cạnh vicine và convicine, vỏ hạt đậu faba của các giống hoa có màu còn chứa một lượng lớn tannin ngưng tụ, tạo vị chát đắng và làm giảm khả năng tiêu hóa protein ở các loài vật nuôi dạ dày đơn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khả năng cố định nitơ sinh học và dịch vụ sinh thái\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một trong những đặc tính sinh học quý giá nhất của cây đậu faba là khả năng thiết lập mối quan hệ cộng sinh tự nhiên với vi khuẩn nốt sần Rhizobium leguminosarum bv. viciae cư trú trong đất. Các nốt sần hình thành dày đặc trên hệ rễ hoạt động như những nhà máy sinh học thu nhỏ, sử dụng phức hệ enzyme nitrogenase để bẻ gãy liên kết ba cực kỳ bền vững của phân tử nitơ tự do trong không khí và chuyển hóa thành ion amoni mà cây trồng có thể hấp thu trực tiếp.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Theo số liệu tổng hợp chuyên sâu của Jensen và cs. (2010), đậu faba là loài cây có hiệu suất cố định nitơ sinh học cao hàng đầu trong số tất cả các cây họ Đậu được canh tác trên thế giới, với lượng nitơ khí quyển được cố định đạt từ 100 đến 300 kg nitơ trên mỗi hecta trong một vụ canh tác. Theo Jensen và cs. (2010), quá trình này có thể đáp ứng từ 80 đến 90% tổng nhu cầu đạm của bản thân cây đậu faba mà không cần bón thêm bất kỳ lượng phân đạm khoáng hóa học nào.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nghiên cứu về các mô hình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22n%C3%B4ng%20nghi%E1%BB%87p%20b%E1%BB%81n%20v%E1%BB%AFng%22%7D}} của Karkanis và cs. (2018) đã chỉ ra rằng việc đưa đậu faba vào hệ thống luân canh với cây ngũ cốc mang lại các lợi ích sinh thái to lớn. Sau khi thu hoạch hạt, một lượng lớn sinh khối rễ và tàn dư thân lá giàu đạm hữu cơ để lại trong đất sẽ từ từ phân giải, cung cấp nguồn dinh dưỡng quý báu cho vụ lúa mì hoặc ngô kế tiếp, giúp người nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí phân bón và giảm phát thải khí nhà kính oxit nitơ ra khí quyển.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Giải mã bộ gen khổng lồ và tương lai ngành chọn giống\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong suốt nhiều thập kỷ, công tác chọn tạo giống đậu faba bằng phương pháp phân tử gặp vô vàn rào cản kỹ thuật do bộ gen của loài cây này có kích thước thuộc hàng khổng lồ trong giới thực vật bậc cao. Với kích thước xấp xỉ 13 tỷ cặp base, bộ gen đậu faba lớn gấp hơn bốn lần bộ gen của con người và chứa tỷ lệ rất cao các chuỗi trình tự lặp lại phức tạp.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bước ngoặt lịch sử của ngành {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%B4ng%20ngh%E1%BB%87%20sinh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} nông nghiệp đã diễn ra khi liên minh khoa học quốc tế do Jayakodi và cs. (2023) dẫn đầu công bố trên tạp chí Nature bản đồ giải trình tự hoàn chỉnh ở cấp độ nhiễm sắc thể của bộ gen đậu faba. Nghiên cứu mang tính đột phá này đã định vị chính xác gen mã hóa enzyme then chốt chịu trách nhiệm cho con đường sinh tổng hợp vicine và convicine.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Phát hiện của Jayakodi và cs. (2023) cung cấp chìa khóa di truyền quyết định giúp các nhà chọn giống trên khắp thế giới phát triển thành công các giống đậu faba thế hệ mới không chứa vicine và convicine, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ gây hội chứng favism. Kết hợp với việc tạo ra các dòng giống vỏ hạt không tannin, đậu faba đang từng bước trở thành nguồn protein thực vật hoàn hảo, an toàn cho mọi đối tượng người tiêu dùng và đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp xanh {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%C3%ADch%20%E1%BB%A9ng%20v%E1%BB%9Bi%20bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n","faba bean",[19,20,21,22],"đậu tằm","đậu ngựa","Vicia faba","đậu broad","Đậu faba (Vicia faba L.) là một loài thực vật thân thảo hàng năm thuộc họ Đậu (Fabaceae), được canh tác rộng rãi để lấy hạt giàu protein cho con người và gia súc, đồng thời cải tạo đất thông qua khả năng cố định đạm sinh học.","AGRICULTURAL_SCIENCES",[26,33,40,47],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":10},"Jayakodi, M., Golicz, A. A., Kreplak, J., Fechete, L. I., Angra, D., Bednář, P., Bornhofen, E., Zhang, H., Boussageon, R., Kaur, S., Cheung, K., Čížková, J., Gundlach, H., Hallab, A., Imbert, B., Keeble-Gagnère, G., Koblížková, A., Kobrlová, L., Krejčí, P., Mouritzen, T. W., Neumann, P., Nadzieja, M., Nielsen, L. K., Novák, P., Orabi, J., Padmarasu, S., Robertson-Shersby-Harvie, T., Robledillo, L. Á., Schiemann, A., Tanskanen, J., Törönen, P., Warsame, A. O., Wittenberg, A. H. J., Himmelbach, A., Aubert, G., Courty, P. E., Doležel, J., Holm, P. B., Janss, L., Khazaei, H., Macas, J., Mascher, M., Smýkal, P., Snowdon, R. J., Stein, N., Stoddard, F. L., Stougaard, J., Tayeh, N., Torres, A. M., Usadel, B., Schubert, I., O’Sullivan, D. M., Schulman, A. H., Andersen, S. U. (2023). The giant diploid faba genome unlocks variation in a global protein crop. Nature, 615(7953), 652–659.","The giant diploid faba genome unlocks variation in a global protein crop","Jayakodi, Golicz, Kreplak, Fechete, Angra, Bednář, Bornhofen, Zhang, Boussageon, Kaur, Cheung, Čížková, Gundlach, Hallab, Imbert, Keeble-Gagnère, Koblížková, Kobrlová, Krejčí, Mouritzen, Neumann, Nadzieja, Nielsen, Novák, Orabi, Padmarasu, Robertson-Shersby-Harvie, Robledillo, Schiemann, Tanskanen, Törönen, Warsame, Wittenberg, Himmelbach, Aubert, Courty, Doležel, Holm, Janss, Khazaei, Macas, Mascher, Smýkal, Snowdon, Stein, Stoddard, Stougaard, Tayeh, Torres, Usadel, Schubert, O’Sullivan, Schulman, Andersen","Nature",2023,"10.1038\u002Fs41586-023-05791-5",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":10},"Multari, S., Stewart, D., Russell, W. R. (2015). Potential of Fava Bean as Future Protein Supply to Partially Replace Meat Intake in the Human Diet. Comprehensive Reviews in Food Science and Food Safety, 14(5), 511–533.","Potential of Fava Bean as Future Protein Supply to Partially Replace Meat Intake in the Human Diet","Multari, Stewart, Russell","Comprehensive Reviews in Food Science and Food Safety",2015,"10.1111\u002F1541-4337.12146",{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":44,"year":45,"doi":46,"url":10},"Jensen, E. S., Peoples, M. B., Hauggaard-Nielsen, H. (2010). Faba bean in cropping systems. Field Crops Research, 115(3), 203–216.","Faba bean in cropping systems","Jensen, Peoples, Hauggaard-Nielsen","Field Crops Research",2010,"10.1016\u002Fj.fcr.2009.10.008",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":10},"Karkanis, A., Ntatsi, G., Lepse, L., Fernández, J. A., Vågen, I. M., Rewald, B., Alsiņa, I., Kronberga, A., Balliu, A., Olle, M., Bodner, G., Dubova, L., Rosa, E., Savvas, D. (2018). Faba Bean Cultivation – Revealing Novel Managing Practices for More Sustainable and Competitive European Cropping Systems. Frontiers in Plant Science, 9, 1115.","Faba Bean Cultivation – Revealing Novel Managing Practices for More Sustainable and Competitive European Cropping Systems","Karkanis, Ntatsi, Lepse, Fernández, Vågen, Rewald, Alsiņa, Kronberga, Balliu, Olle, Bodner, Dubova, Rosa, Savvas","Frontiers in Plant Science",2018,"10.3389\u002Ffpls.2018.01115",[55,58,61],{"question":56,"answer":57},"Đậu faba chứa bao nhiêu phần trăm protein trong hạt?","Theo nghiên cứu của Multari và cs. (2015), hạt đậu faba khô chứa hàm lượng protein dồi dào từ 26 đến 35% khối lượng chất khô, vượt trội so với ngũ cốc và là nguồn thay thế thịt tiềm năng.",{"question":59,"answer":60},"Hội chứng favism là gì và vì sao liên quan đến đậu faba?","Favism là tình trạng thiếu máu tán huyết cấp tính xảy ra ở người bị thiếu enzyme G6PD di truyền khi tiêu thụ đậu faba do hai glycoside vicine và convicine giải phóng các gốc oxy hóa phá hủy hồng cầu.",{"question":62,"answer":63},"Giải mã bộ gen đậu faba của Jayakodi và cs. (2023) mang lại ý nghĩa gì?","Nghiên cứu trên Nature của Jayakodi và cs. (2023) đã giải mã bộ gen 13 tỷ cặp base và định vị gen kiểm soát vicine\u002Fconvicine, giúp chọn tạo giống đậu faba không độc tố và an toàn cho cộng đồng.",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":65,"researcherId":10,"name":66,"imageUrl":67},[70,71,72,73,74,75,76,77,78,79],"thức ăn chăn nuôi","chỉ số đường huyết","sức khỏe tim mạch","hệ vi sinh vật đường ruột","vi khuẩn đường ruột","chất chống oxy hóa","thiếu máu tán huyết","nông nghiệp bền vững","công nghệ sinh học","thích ứng với biến đổi khí hậu",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.795+00:00","2026-09-11T09:41:07.646+00:00","2026-09-11T08:20:06.648+00:00","2026-09-11T09:41:07.272+00:00",0,[89,92,95,98,101,104,107,110,113,116],{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"kaempferol","Kaempferol là gì? Các nghiên cứu khoa học về Kaempferol",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"scopus","Scopus là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Scopus",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bã đậu nành","Bã đậu nành là gì? Các công bố khoa học về Bã đậu nành",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhân giống in vitro","Nhân giống in vitro là gì? Các công bố khoa học về Nhân giống in vitro",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"saccharomyces cerevisiae","Saccharomyces cerevisiae là gì? Các công bố khoa học về Saccharomyces cerevisiae",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vector chuyển gen","Vector chuyển gen là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"acid gallic","Acid gallic là gì? Các công bố khoa học về Acid gallic",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ấu trùng","Ấu trùng là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ấu trùng",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chất kết dính","Chất kết dính là gì? Các công bố khoa học về Chất kết dính",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"cố định đạm","Cố định đạm là gì? Các nghiên cứu khoa học về Cố định đạm"]