[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_%C4%91%E1%BA%A5t%20n%E1%BB%81n{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_%C4%91%E1%BA%A5t%20n%E1%BB%81n":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":65,"createUser":78,"publishUser":82,"keywords":86,"keywordCount":83,"enrichTopicLink":87,"status":88,"createTime":89,"updateTime":90,"publishTime":91,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":92,"wikidataId":10,"relateTopics":93},"đất nền","Đất nền là gì? Bản chất địa kỹ thuật và phương pháp xử lý","Đất nền là khối đất đá chịu tải trọng công trình trực tiếp. Tìm hiểu cơ chế ứng suất hữu hiệu, sức chịu tải và các phương pháp khảo sát, cải tạo đất nền.","\u003Cp>Đất nền là thể địa chất gồm các tầng đất đá tự nhiên hoặc nhân tạo nằm ngay dưới đáy móng và xung quanh công trình xây dựng, giữ vai trò tiếp nhận và tiêu tán toàn bộ tải trọng truyền từ kết cấu bên trên xuống. Khả năng chịu lực và đặc tính biến dạng của đất nền quyết định trực tiếp đến độ ổn định tổng thể, sự an toàn kết cấu và tuổi thọ khai thác của mọi công trình kiến trúc cũng như hạ tầng kỹ thuật.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất địa kỹ thuật và cấu trúc ba pha của đất nền\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khác với các vật liệu xây dựng nhân tạo có tính liên tục và đẳng hướng như thép hay bê tông, đất nền là một môi trường phân tán dị hướng gồm ba pha cùng tồn tại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Pha rắn:\u003C\u002Fstrong> Là bộ khung khoáng vật gồm các hạt cát, cuội, sỏi, bột và các khoáng sét liên kết với nhau thông qua lực ma sát và lực dính phân tử.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Pha lỏng:\u003C\u002Fstrong> Là nước tự do, nước mao dẫn hoặc nước liên kết màng mỏng lấp đầy một phần hoặc toàn bộ các lỗ rỗng giữa các hạt khoáng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Pha khí:\u003C\u002Fstrong> Là không khí hoặc khí sinh học nằm trong các lỗ rỗng chưa bị nước chiếm chỗ. Khi đất bão hòa nước hoàn toàn, pha khí bị triệt tiêu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Sự tương tác cơ học phức tạp giữa ba pha này tạo nên các đặc tính phi tuyến, phụ thuộc thời gian và biến dạng dẻo của đất nền dưới tác động của trường ứng suất ngoài.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý ứng suất hữu hiệu và cơ chế truyền lực trong đất nền\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong cơ học đất kinh điển do Karl Terzaghi (1943) đặt nền móng, toàn bộ sự biến dạng thể tích và sức kháng cắt của môi trường đất bão hòa nước chỉ phụ thuộc vào ứng suất hữu hiệu. Ứng suất hữu hiệu ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> được tính bằng hiệu số giữa ứng suất tổng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> tác dụng lên mặt phẳng phân chia và áp lực nước lỗ rỗng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> sinh ra trong các khe rỗng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma' = \\sigma - u\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> là ứng suất hữu hiệu tác dụng trực tiếp lên các điểm tiếp xúc giữa các hạt khoáng vật của đất nền.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> là ứng suất tổng pháp tuyến do tải trọng bản thân đất và tải trọng công trình sinh ra.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> là áp lực nước lỗ rỗng thủy tĩnh và áp lực nước lỗ rỗng thặng dư do gia tải đột ngột.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Khi công trình truyền tải trọng lớn xuống nền đất yếu có tính thấm thấp, áp lực nước lỗ rỗng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> tăng vọt khiến ứng suất hữu hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> giảm tức thời. Theo thời gian, nước lỗ rỗng thoát ra ngoài qua quá trình cố kết thấm, làm giảm dần \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> và tăng dần \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript>, dẫn đến sự gia tăng sức kháng cắt của đất nền và sự xuất hiện độ lún cố kết dài hạn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Lý thuyết sức chịu tải của nền móng công trình\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sức chịu tải cực hạn của đất nền dưới đáy móng nông là tải trọng giới hạn lớn nhất mà nền đất có thể nâng đỡ trước khi xảy ra hiện tượng phá hoại cắt trượt tổng thể. Aleksandar Sedmak Vesić (1973) đã hoàn thiện phương trình tổng quát xác định sức chịu tải cực hạn ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">q_u\u003C\u002Fscript> cho móng nông đặt trên nền đất đồng nhất:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">q_u = c N_c s_c d_c + q N_q s_q d_q + \frac{1}{2} \\gamma B N_\\gamma s_\\gamma d_\\gamma\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong phương trình trên, các đại lượng được định nghĩa như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">q_u\u003C\u002Fscript> là sức chịu tải cực hạn trên một đơn vị diện tích đáy móng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c\u003C\u002Fscript> là lực dính kết đơn vị của tầng đất nền tiếp xúc trực tiếp đáy móng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">q\u003C\u002Fscript> là áp lực phủ hiệu dụng tại cao độ đáy móng, tính theo công thức tải trọng bản thân đất bên trên đáy móng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\gamma\u003C\u002Fscript> là dung trọng thể tích hiệu dụng của đất nền phía dưới đáy móng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">B\u003C\u002Fscript> là bề rộng hình học của móng công trình.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">N_c\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">N_q\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">N_\\gamma\u003C\u002Fscript> là các hệ số sức chịu tải không thứ nguyên, là hàm số phụ thuộc vào góc ma sát trong của đất nền.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s_c\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s_q\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">s_\\gamma\u003C\u002Fscript> là các hệ số hiệu chỉnh hình dạng đáy móng như hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_c\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_q\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_\\gamma\u003C\u002Fscript> là các hệ số hiệu chỉnh độ sâu chôn móng so với mặt đất tự nhiên.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Biến dạng và các thành phần lún của đất nền\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Biến dạng lún của đất nền dưới tác dụng của tải trọng công trình thường được chia thành ba thành phần kế tiếp nhau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Lún đàn hồi (lún tức thời):\u003C\u002Fstrong> Xảy ra ngay khi tải trọng tác dụng, phát sinh do biến dạng đàn hồi và biến dạng trượt của khung hạt khoáng mà không có sự thay đổi hàm lượng nước lỗ rỗng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Lún cố kết sơ cấp:\u003C\u002Fstrong> Chiếm tỷ trọng lớn nhất ở các loại đất dính bão hòa nước, phát sinh do quá trình thoát nước lỗ rỗng và chuyển hóa áp lực nước thặng dư thành ứng suất hữu hiệu. Tốc độ lún phụ thuộc vào hệ số thấm và chiều dài đường thấm của tầng đất.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Lún cố kết thứ cấp (lún từ biến):\u003C\u002Fstrong> Diễn ra chậm chạp và kéo dài liên tục sau khi áp lực nước lỗ rỗng thặng dư đã tiêu tán hoàn toàn, do sự tái sắp xếp từ biến dẻo của các hạt khoáng vật dưới ứng suất hữu hiệu không đổi.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Phương pháp khảo sát hiện trường và phân loại hành vi đất nền\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để đánh giá chính xác các chỉ tiêu cơ lý của đất nền phục vụ thiết kế nền móng, công tác khảo sát địa kỹ thuật kết hợp giữa thí nghiệm hiện trường và thí nghiệm trong phòng thí nghiệm là bắt buộc:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n    \u003Cthead>\n        \u003Ctr>\n            \u003Cth>Phương pháp khảo sát\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Thông số đo đạc chính\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Ứng dụng trong đánh giá đất nền\u003C\u002Fth>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Fthead>\n    \u003Ctbody>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT)\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Chỉ số số búa tiêu chuẩn đóng sâu từng đoạn\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Đánh giá độ chặt của đất rời, trạng thái của đất dính và ước tính sức chịu tải sơ bộ.\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Thí nghiệm xuyên tĩnh (CPT\u002FCPTU)\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Sức kháng mũi nón, ma sát thành ống và áp lực nước lỗ rỗng\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Phân chia địa tầng liên tục và xác định phân loại hành vi đất.\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Thí nghiệm cắt cánh hiện trường (VST)\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Mô men xoắn cực đại khi cánh cắt xoay\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Đo sức kháng cắt không thoát nước của các tầng đất sét mềm và bùn yếu bão hòa nước.\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Thí nghiệm nén cố kết không nở hông (Oedometer)\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Chỉ số nén, chỉ số nở và hệ số cố kết\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Dự báo độ lún cố kết sơ cấp, thời gian lún và áp lực tiền cố kết của tầng đất dính.\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Trong công tác phân loại địa tầng hiện đại, Peter K. Robertson (1990) đã thiết lập biểu đồ phân loại loại hành vi đất dựa trên kết quả thí nghiệm CPT thông qua hai thông số chuẩn hóa là sức kháng mũi nón chuẩn hóa và tỷ số ma sát chuẩn hóa, giúp phân biệt rõ ràng 12 nhóm hành vi cơ học khác nhau từ đất than bùn, sét mềm, sét pha, bột đến cát chặt và sỏi sạn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các công nghệ cải tạo và xử lý đất nền yếu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi xây dựng công trình trên các khu vực có tầng đất nền yếu có sức chịu tải thấp và độ lún dự kiến vượt quá giới hạn an toàn, các kỹ sư địa kỹ thuật phải áp dụng các giải pháp xử lý cải tạo nền:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Phương pháp gia tải trước kết hợp bấc thấm và hút chân không\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Buddhima Indraratna, Cholachat Rujikiatkamjorn và Ian Sathananthan (2005) đã chứng minh hiệu quả của phương pháp gia tải trước kết hợp bấc thấm bản nhựa thẳng đứng và công nghệ hút chân không kín màng. Khi tạo một áp lực chân không âm duy trì ở mức tương đương 80 kPa trong hệ thống bấc thấm, độ chênh áp lực nước lỗ rỗng tăng mạnh mà không gây nguy cơ mất ổn định trượt do tải trọng đắp gây ra. Quá trình này giúp rút ngắn đáng kể thời gian thoát nước, đẩy nhanh 90% độ cố kết của tầng sét yếu chỉ trong vài tháng thay vì nhiều năm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Phương pháp trộn sâu (cọc xi măng đất)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Masaki Kitazume (2021) tổng kết sự phát triển của công nghệ trộn sâu đất bằng chất kết dính xi măng hoặc vôi nhằm tạo ra các cột đất gia cố có cường độ cao. Với hàm lượng xi măng phối trộn từ 100 kg\u002Fm3 đến 300 kg\u002Fm3 đất, cường độ nén đơn trục của khối đất sau gia cố đạt từ 0.5 MPa đến 5.0 MPa, làm tăng vượt bậc sức chịu tải của nền móng và hạn chế tối đa độ lún lệch cho các công trình tải trọng lớn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>3. Phương pháp đầm chặt động và cọc đệm đá dăm\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sử dụng búa nặng thả rơi tự do từ độ cao lớn để truyền năng lượng xung kích mạnh xuống nền đất rời xốp, làm giảm thể tích lỗ rỗng và tăng góc ma sát trong của đất. Đối với đất dính mềm, việc thi công các giếng cát hoặc cọc đá dăm đầm chặt giúp tăng cường khả năng thoát nước thẳng đứng và chia sẻ phần lớn tải trọng truyền từ móng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc điểm đất nền yếu tại các vùng đồng bằng Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, điều kiện địa chất công trình ở các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có đặc trưng tầng đất yếu phân bố rất rộng và bề dày lớn. Nghiên cứu của Pham Huy Giao, Nguyen Thi Dung và Phung Duc Long (2008) tại khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tầng sét mềm nguồn gốc trầm tích biển - vịnh có chiều dày biến động từ 15 m đến 40 m. Các lớp đất này có độ ẩm tự nhiên rất cao dao động từ 60% đến 120%, hệ số rỗng ban đầu dao động từ 1.5 đến 2.5, trong khi sức kháng cắt không thoát nước rất thấp dưới mức 20 kPa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Việc xây dựng các công trình công nghiệp, nhà cao tầng và đê kè ven biển trên nền địa chất phức tạp này đòi hỏi khảo sát kỹ lưỡng và lựa chọn chính xác các phương án móng sâu như móng cọc khoan nhồi, móng cọc bê tông cốt thép dự ứng lực hoặc xử lý triệt để đất nền trước khi thi công kết cấu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phạm vi áp dụng và các ranh giới tính toán cơ học đất nền\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù các mô hình cơ học đất lý thuyết cung cấp công cụ tính toán mạnh mẽ, việc áp dụng vào thiết kế thực tế cần lưu ý các ranh giới và giới hạn điều kiện biên sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Mô hình đồng nhất và đẳng hướng:\u003C\u002Fstrong> Hầu hết các công thức kinh điển của Terzaghi và Vesić giả định môi trường đất đồng nhất và đẳng hướng. Trong thực tế, đất nền luôn phân lớp phức tạp với các thấu kính cát sét xen kẹp và tính thấm theo phương ngang thường lớn hơn nhiều so với phương thẳng đứng.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Tác động của nước ngầm và biến động thủy văn:\u003C\u002Fstrong> Sự dao động theo mùa của mực nước ngầm làm thay đổi trực tiếp áp lực nước lỗ rỗng và ứng suất hữu hiệu, có thể gây ra hiện tượng hóa lỏng cát khi có tải trọng động chấn động hoặc sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm quá mức.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Giới hạn biến dạng công trình:\u003C\u002Fstrong> Tiêu chuẩn thiết kế không chỉ kiểm tra trạng thái phá hoại sức chịu tải cực hạn mà phải đặc biệt chú trọng trạng thái giới hạn sử dụng, đảm bảo độ lún tuyệt đối và độ lún lệch tương đối giữa các móng nằm trong giới hạn cho phép của kết cấu khung chịu lực bên trên.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>","foundation soil",[19,20,21],"nền đất","đất nền công trình","subgrade","Đất nền là thể địa chất gồm các lớp đất đá nằm trực tiếp dưới đáy móng hoặc bao quanh kết cấu công trình, có chức năng tiếp nhận và phân tán tải trọng từ bên trên truyền xuống nhằm duy trì độ ổn định và giới hạn độ lún trong phạm vi cho phép.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[25,32,39,46,52,59],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":10},"Terzaghi, K. (1943). Theoretical Soil Mechanics. John Wiley & Sons.","Theoretical Soil Mechanics","Terzaghi, K.","John Wiley & Sons",1943,"10.1002\u002F9780470172766",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":10},"Vesić, A. S. (1973). Analysis of Ultimate Loads of Shallow Foundations. Journal of the Soil Mechanics and Foundations Division, 99(1), 45–73.","Analysis of Ultimate Loads of Shallow Foundations","Vesić, A. S.","Journal of the Soil Mechanics and Foundations Division",1973,"10.1061\u002Fjsfeaq.0001846",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":10},"Robertson, P. K. (1990). Soil classification using the cone penetration test. Canadian Geotechnical Journal, 27(1), 151–158.","Soil classification using the cone penetration test","Robertson, P. K.","Canadian Geotechnical Journal",1990,"10.1139\u002Ft90-014",{"citationText":47,"title":48,"authors":49,"source":43,"year":50,"doi":51,"url":10},"Indraratna, B., Rujikiatkamjorn, C., & Sathananthan, I. (2005). Analytical and numerical solutions for a single vertical drain including the effects of vacuum preloading. Canadian Geotechnical Journal, 42(4), 994–1014.","Analytical and numerical solutions for a single vertical drain including the effects of vacuum preloading","Indraratna, B., Rujikiatkamjorn, C., Sathananthan, I.",2005,"10.1139\u002Ft05-029",{"citationText":53,"title":54,"authors":55,"source":56,"year":57,"doi":58,"url":10},"Kitazume, M. (2021). Recent Development and Future Perspectives of Quality Control and Assurance for the Deep Mixing Method. Applied Sciences, 11(19), 9155.","Recent Development and Future Perspectives of Quality Control and Assurance for the Deep Mixing Method","Kitazume, M.","Applied Sciences",2021,"10.3390\u002Fapp11199155",{"citationText":60,"title":61,"authors":62,"source":43,"year":63,"doi":64,"url":10},"Giao, P. H., Dung, N. T., & Long, P. D. (2008). An integrated geotechnical–geophysical investigation of soft clay at a coastal site in the Mekong Delta for oil and gas infrastructure development. Canadian Geotechnical Journal, 45(10), 1420–1437.","An integrated geotechnical–geophysical investigation of soft clay at a coastal site in the Mekong Delta for oil and gas infrastructure development","Giao, P. H., Dung, N. T., Long, P. D.",2008,"10.1139\u002Ft08-077",[66,69,72,75],{"question":67,"answer":68},"Đất nền khác gì so với đất xây dựng thông thường?","Đất nền là phạm trù địa kỹ thuật chỉ khối đất đá nằm trong phạm vi chịu tác động trực tiếp của ứng suất do công trình truyền xuống, trong khi đất xây dựng là thuật ngữ chung chỉ mọi loại đất làm vật liệu hoặc môi trường xây dựng.",{"question":70,"answer":71},"Nguyên lý ứng suất hữu hiệu trong đất nền có ý nghĩa gì?","Nguyên lý ứng suất hữu hiệu của Terzaghi chỉ ra rằng sức kháng cắt và độ biến dạng lún của đất nền bão hòa chỉ phụ thuộc vào ứng suất tác dụng lên khung hạt khoáng vật, bằng hiệu số giữa ứng suất tổng và áp lực nước lỗ rỗng.",{"question":73,"answer":74},"Khi nào cần phải xử lý cải tạo đất nền?","Cần xử lý cải tạo đất nền khi kết quả khảo sát địa kỹ thuật cho thấy sức chịu tải của nền đất tự nhiên không đủ an toàn hoặc độ lún tính toán vượt quá giới hạn cho phép của kết cấu công trình.",{"question":76,"answer":77},"Các phương pháp phổ biến để xử lý đất nền yếu hiện nay là gì?","Các phương pháp phổ biến gồm có gia tải trước kết hợp bấc thấm hút chân không, cọc xi măng đất (trộn sâu DMM), đầm chặt động và thay đất hoặc gia cố bằng cọc đệm vật liệu hạt.",{"id":79,"researcherId":10,"name":80,"imageUrl":81},2633,"Hoài Đặng","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLVXVafUxrnnC_H60UeQdpLE3UgeKGCSesypz_6Vi59B-n9C41A=s96-c",{"id":83,"researcherId":10,"name":84,"imageUrl":85},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:00.441+00:00","2026-08-26T07:06:45.048+00:00","2026-08-26T07:06:45.039+00:00",0,[94,104,110,115,120,125,130,135,140,145],{"id":95,"title":96,"term":97,"englishTitle":98,"definition":99,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"móng cọc","Móng cọc là gì? Các công bố khoa học về Móng cọc","Móng cọc","Pile foundation","Móng cọc là loại móng sâu trong kỹ thuật xây dựng công trình gồm các cấu kiện cọc thanh dài (bằng bê tông cốt thép, thép hoặc vật liệu composite) được đóng, ép hoặc khoan nhồi sâu vào lòng đất để truyền tải trọng công trình tầng trên xuống các tầng đất đá chịu lực tốt ở tầng sâu.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":105,"title":106,"term":107,"englishTitle":108,"definition":109,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":113,"definition":114,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":118,"definition":119,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":128,"definition":129,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":131,"title":132,"term":131,"englishTitle":133,"definition":134,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":146,"title":147,"term":146,"englishTitle":148,"definition":149,"discipline":23,"disciplineCode":100,"disciplineLabel":101,"disciplineColor":102,"disciplineIcon":103},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]